CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NHTM 1. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Khái quát chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là hai từ vốn rất quen thuộc với mọi người.
Cạnh tranh diễn ra từng giờ, từng ngày và trong mọi lĩnh vực, từ kinh tế, thương mại, thể thao, …cho đến cuộc sống thường nhật; và thuật ngữ này còn được nhắc tới thường xuyên trong các diễn đàn kinh tế, các cuộc hội thảo, hội nghị… trên các phương tiện thông tin đại chúng và thậm chí là trong giao tiếp hàng ngày của nhiều đối tượng. Tuy vậy, cho đến nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Khái niệm cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Khái niệm này được sử dụng từ phạm vi hẹp như phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, cho đến phạm vi rộng như phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv… chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra.
Trong khi đối với một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là tồn tại và lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh ngành trong quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là cải thiện, nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân v.v… Trong quyển từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) có định nghĩa rằng: Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. Còn theo từ điển kinh doanh được xuất bản năm 1992 ở Anh thì định nghĩa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 cạnh tranh trong cơ chế thị trường là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành lấy tài nguyên sản xuất của cùng một loại hàng hoá về cho mình. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học xuất bản lần thứ 12, lại định nghĩa rằng: Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).
Theo quan điểm của K. Marx thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Trong khái niệm của K.Marx, cạnh tranh được định nghĩa ngắn gọn nhưng rõ ràng và súc tích, nêu lên được chủ thể chính của cạnh tranh là các nhà tư bản; hành động cạnh tranh là ganh đua, giành giật; với mức độ cạnh tranh luôn rất gay gắt trong cả sản xuất lẫn tiêu thụ; và nhằm tới mục tiêu cuối cùng là siêu lợi nhuận. Như vậy, cạnh tranh nói chung là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, các phần thưởng hay những lợi ích khác.
Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, sinh thái, thể thao…. Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài, tùy theo nội dung mà thuật ngữ này được sử dụng. Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau. Một vài kết quả, ví dụ như trong cạnh tranh về tài nguyên, nguồn sống hay lãnh thổ, có thể thúc đẩy sự phát triển về mặt sinh học, tiến hoá, vì chúng có cơ hội, được cung cấp lợi thế cho sự sống sót, tồn tại.
Ở góc độ kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể tham gia thị trường nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng; giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh về giá (Ví dụ: giảm giá bán, tặng thêm sản phẩm khi mua số lượng lớn …) hoặc cạnh tranh phi giá cả (quảng cáo, tài trợ các sự kiện lớn …). Cạnh tranh lành mạnh với những hình thức phù hợp với pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh bằng những thủ đoạn xấu.
Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược và các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp đó đối với các đối thủ còn lại nhằm giành lấy lợi ích cao nhất về mình. Khái niệm năng lực cạnh tranh Cũng như cạnh tranh, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm; và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh. Quan điểm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng có nhiều khác biệt. Nguyễn Văn Thanh, trường Đại học Thương mại trong Asian Development Outlook, 2003, tr.205, thì năng lực cạnh tranh là “khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới.” Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF – lại cho rằng năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực và cơ hội trong hoàn cảnh riêng trước mắt và tương lai của doanh nghiệp có sức hấp dẫn về giá và chất lượng hơn so với đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước để thiết kế sản xuất, tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ.
Ở góc độ vi mô, Micheal Porter, Giáo sư nổi tiếng về chiến lược cạnh tranh của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) lại cho rằng: “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn” [8, trang 19]. Tựu trung lại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một hàm số của các nhân tố như: các nguồn lực của chính doanh nghiệp (vốn, con người, trình độ công nghệ…), các đối thủ hiện tại và tiềm năng, hệ thống pháp luật, môi trường kinh tế… Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng khai thác, sử dụng hợp lý thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm - dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao. Khái niệm năng lực cạnh tranh của NHTM Ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp, nhưng là doanh nghiệp đặc biệt, do đó năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại cũng mang nhiều điểm giống với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.TS Nguyễn Thị Quy thì: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động của môi trường kinh doanh” [8, trang 22].
Năng lực cạnh tranh theo thời gian chính là khả năng có thể điều chỉnh trước những thay đổi của điều kiện thị trường, có thể duy trì được thị phần và/ hoặc tăng hoạt động kinh doanh theo sự phát triển của thị trường. Đặc điểm chính của các ngân hàng cạnh tranh đó là khả năng của các ngân hàng này trong việc tận dụng những thay đổi của điều kiện thị trường. Vị thế hiện tại của các ngân hàng chỉ là vấn đề khi mà thị trường không có sự thay đổi. Như vậy, cũng không khác gì so với các doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mại cũng là khả năng chiếm lĩnh thị trường và đạt được lợi nhuận cao hơn so với bình quân ngành mà vẫn đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh và bền vững.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tính đặc thù trong cạnh tranh của các ngân hàng thương mại - Tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu sự tác động bởi rất nhiều nhân tố từ vi mô đến vĩ mô, từ kinh tế, chính trị cho đến tâm lý, xã hội, truyền thống văn hoá… khi mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là ít hay nhiều cũng đều tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung. Chỉ cần xuất hiện một thông tin không tốt về một ngân hàng nào đó thì ngay lập tức tin đồn thổi sẽ được lan truyền nhanh chóng và có thể gây nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn vong của các ngân hàng khác, thậm chí cả hệ thống các tổ chức tín dụng.