MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết đề tài Sau khi tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN năm 1995, Việt Nam ngày càng tích cực tham gia vào các thỏa thuận thương mại tự do. Trong những năm gần đây, quá trình hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ và Việt Nam cũng không nằm ngoài dòng chảy đó. Năm 2015 đã mở ra nhiều sự kiện quốc tế quan trọng đối với Việt Nam như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (FTA Việt Nam – EU), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), trong đó, quá trình tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN được đánh giá là có mức độ chắc chắn và mang lại nhiều cơ hội nhất cho quá trình hội nhập của chúng ta trong giai đoạn này.
AEC ra đời đã tạo nên một thị trường rộng lớn với 600 triệu dân cùng quy mô GDP có thể tương đương với một nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới. Đồng thời, AEC không chỉ thúc đẩy dòng chu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ và vốn như các FTA mà còn cho phép các lao động có tay nghề tự do di chuyển trong thị trường lao động rộng lớn với 300 triệu người trong độ tuổi lao động. Với một thị trường thống nhất và ổn định, việc tự do di chuyển lao động có kĩ năng trong ASEAN có mở rộng cơ hội cho tất cả quốc gia thành viên. Đây cũng là một động lực thúc đẩy thị trường lao động ASEAN trở nên sôi động hơn, tạo nhiều cơ hội việc làm cho đội ngũ nhân lực các quốc gia trong AEC.
Thực trạng thị trường lao động Việt Nam đang tồn tại một nghịch lí là thừa lao động nhưng thiếu những lao động chất lượng cao cho những ngành nghề được định hướng phát triển. Khi thị trường lao động chính thức được cửa với các nước thành viên AEC, cơ hội của chúng ta được mở rộng nhưng thách thức cũng rất lớn. Để lao động thực sự có cơ hội di chuyển tự do trong AEC, nhân lực phải được đào tạo bài bản, có trình độ đại học trở lên, ngoại ngữ thành thạo,…Đây là những yêu cầu khắt khe được đặt ra và cũng là thách thức đối với các nước trong AEC nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Năm 2018, thị trường lao động trong AEC được di chuyển tự do.
Theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khi tham gia AEC, Việt Nam sẽ có thêm khoảng 14 triệu cơ hội việc làm mới vào năm 2025. Vì vậy, một bài toán được đặt 2 ra là làm thế nào để chúng ta nắm bắt được cơ hội, nâng cao chất lượng lao động, từ các lao động Việt Nam có thể phát huy được năng lực cạnh tranh trong một thị trường với 600 triệu dân. Từ những vấn đề được đặt ra ở trên, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN” cho luận văn của mình với mong muốn từ việc phân tích thực trạng nguồn lao động Việt Nam nhằm định hướng một số giải pháp nâng cao chất lượng lao động Việt. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Kể từ khi Hiệp định ASEAN về Di chuyển thể nhân và Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau được kí kết giữa các thành viên trong cộng đồng kinh tế AEC vào cuối năm 2015, đã có những luận văn, luận án và các bài nghiên cứu được thực hiện để phân tích vấn đề này.
Cụ thể như những đề tài nghiên cứu sau đây: Công trình nghiên cứu: “Human Capital Competitiveness in Asean Economic Community (AEC): The Role of Regulation and Supervision, Indonesia Experiences” của tác giả Salmiaty Taty (Indonesia) công bố năm 2016. Trong nghiên cứu của mình tác giả chỉ ra những thách thức của lao động Indonesia trong bối cảnh lao động được di chuyển tự do tại AEC. Công trình nghiên cứu: “Human Development Priorities for the ASEAN Economic Comumunity” của Eurocham Singapore thực hiện năm 2015 với nội dung chỉ ra những cơ hội và đề xuất giải pháp phát triển năng lực cho lao động các nước thành viên ASEAN trong bối cảnh hội nhập AEC. Báo cáo nghiên cứu “Cộng đồng ASEAN 2015: Quản lý hội nhập hướng tới việc làm tốt hơn và thịnh vượng chung” của Tổ chức Lao động quốc tế thực hiện năm 2014 với nội dung phân tích thực trạng nguồn lao động Việt Nam từ đó đưa ra những định hướng nhằm đẩy mạnh khả năng cạnh tranh và sự phát triển của Việt Nam thông qua việc làm tốt hơn và hội nhập sâu hơn vào khu vực ASEAN.
Chuyên đề “AEC Special” của tờ The Japan Times thực hiện năm 2016 với nội dung sự gia tăng cạnh tranh đối với nguồn nhân lực trong khu vực AEC. 3 Luận án tiến sĩ: “Sự tham gia của Việt Nam vào di chuyển lao động nội khối ASEAN” – Tác giả Đào Thị Thu Trang thực hiện năm 2016 tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận án tập trung phân tích thực trạng tham gia vào di chuyển lao động trong khu vực ASEAN của Việt Nam, từ đó, chỉ ra xu hướng vận động của các dòng chu chuyển lao động giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN, đánh giá thành công, hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thành công và hạn chế trên. Luận văn thạc sĩ đề tài “Tự do di chuyển lao động trong cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam” – Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thương thực hiện năm 2016 tại trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia.
Với đề tài này tác giả đã tập trung phân tích làm rõ nhưng cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam trong bối cảnh tự do di chuyển lao động trong cộng đồng kinh tế ASEAN. Đề tài nghiên cứu “Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam khi gia nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” của PGS. TS Mạc Văn Tiến thực hiện năm 2015. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả phân tích tiềm năng phát triển của cộng đồng kinh tế ASEAN, từ đó, chỉ ra những cơ hội và thách thức cho lao động Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu: “Di chuyển tự do lao động có chuyên môn trong cộng đồng kinh tế ASEAN – những vấn đề đặt ra” – Tác giả Th.s Lê Minh Hạnh thực hiện năm 2015. Trong báo cáo nghiên cứu, tác giả tập trung làm rõ những thuận lợi và khó khăn của các nước thành viên trong quá trình xuất nhập khẩu lao động. Đề tài nghiên cứu: “Lao động Việt Nam trước yêu cầu hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN” của tác giả Trần Văn Hùng thực hiện năm 2017. Bài viết tập trung tập trung phân tích thực trạng chất lượng nguồn lao động Việt Nam trong bối cảnh hòa nhập cộng đồng kinh tế AEC.
Báo cáo nghiên cứu: “Di dân để tìm kiếm cơ hội – Vượt qua rào cản dịch chuyển lao động ở Đông Nam Á” của nhóm các tác giả Ngân hàng Thế giới thực hiện năm 2017. Báo cáo chỉ ra những điểm tích cực và tiêu cực trong quá trình di dân để tìm kiếm việc làm của các nước Đông Nam Á. Đồng thời, bài viết cũng chỉ ra những hạn chế trong các thỏa thuận di chuyển tự do lao động các nước AEC. 4 Bài nghiên cứu “Tự do di chuyển lao động trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức đối với nhân lực có kĩ năng ở Việt Nam” thực hiện năm 2017.
Bài viết từ việc phân tích chất lượng lao động Việt Nam đã chỉ ra những cơ hội và thách thức Việt Nam gặp phải trong quá trình thực hiện các thỏa thuận của AEC về vấn đề di chuyển tự do lao động Bài nghiên cứu “Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Hữu Hảo, Nguyễn Mỹ Diệu thực hiện năm 2016. Bài viết đã chỉ ra những lợi thế cũng như nhược điểm của lao động Việt Nam thông qua số liệu phân tích. Từ đó, người viết đưa ra giải pháp đến các đối tượng nhằm nâng cao chất lượng của lao động Việt Nam khi hội nhập AEC. Bài nghiên cứu “Tự do di chuyển lao động trong Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội và thách thức đối với nhân lực có kĩ năng của Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Diệu Hiền và Trần Thị Phương Thảo thực hiện năm 2017.
Bài viết đưa ra số liệu và phân tích thực trạng di chuyển lao động có kĩ năng giữa các nước trong khu vực. Từ đó chỉ ra cơ hội, thách thức và cung cấp những giải pháp để lao động Việt Nam phát huy lợi thế cũng như hạn chế những nhược điểm, tạo ưu thế trong quá trình hội nhập. Chủ yếu các tác giả thực hiện phân tích vấn đề di chuyển tự do lao động trong khu vực AEC từ đó chỉ ra những cơ hội và thách thức của Việt Nam. Trong bài nghiên cứu của mình, người viết tìm ra khoảng trống nghiên cứu về phân tích thực trạng lao động Việt Nam xét trên các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh.
Từ đó đưa ra những giải pháp giúp Việt Nam phát huy lợi thế của mình trong thị trường lao động AEC. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: 3. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trong AEC dưới góc độ quản lí nhà nước mang tầm vĩ mô. Từ đó đưa ra định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trong thị trường lao động AEC.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau: Giải quyết vấn đề khoa học: Nêu ra khung lý thuyết về Lợi thế cạnh tranh quốc gia; lý thuyết di chuyển quốc tế các nguồn lực và dựa trên các căn cứ pháp lý của Hiệp định di chuyển thể nhân giữa các nước thành viên AEC để giải quyết vấn đề đặt ra trong mục tiêu nghiên cứu Giải quyết vấn đề thực tiễn: Phân tích thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam theo các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh, đồng thời, bài viết chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của lao động Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất những định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trong thị trường lao động AEC. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam trong bối cảnh Hội nhập Kinh tế quốc tế nói chung và dòng di chuyển lao động tự do trong Cộng đồng kinh tế ASEAN nói riêng.