Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HOÁ ĐỌC VÀ TỔNG QUAN VỀ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH 1. Các khái niệm cơ bản 1. Văn hoá đọc Văn hóa đọc là một trong những yếu tố cấu thành nên đời sống văn hóa của con người và xã hội. Trước khi chữ viết ra đời, đơn giản chỉ là những ký tự, những dấu hiệu trên vách đá, thân cây thì hoạt động đọc của con người đã xuất hiện.
Khi chữ viết ra đời, đặc biệt là khi công nghệ in ấn phát triển, hoạt động đọc của con người càng trờ nên phổ biến trong xã hội. Sách, báo, tạp chí,… cung cấp cho con người tri thức khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất và chiến đấu mà con người đã tích lũy và đúc kết lại trong quá trình sống. Thông qua quá trình đọc, các tri thức này được truyền từ đời này qua đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Từ xa xưa, con người đã khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa đọc đối với sự hình thành và phát triển của mỗi cá nhân cũng như vai trò to lớn trong sự phát triển của xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Sách là thuốc bổ tinh thần, sách là thuốc chữa tội ngủ”.Lenin cho rằng: “Không có sách thì không có tri thức. Không có tri thức thì không có cộng sản"… Từ đó có thể khẳng định, văn hóa đọc là nền tảng, là cơ sở cho sự phát triển những ý tưởng sáng tạo, góp phần nâng cao dân trí, đồng thời cũng là phương tiện lưu giữ tri thức, kinh nghiệm cho các thế hệ. Vì thế, văn hóa đọc là một nét đẹp của mỗi dân tộc. Cho đến nay, các nhà nghiên cứ khoa học đã đề cập đến văn hóa đọc dưới nhiều góc độ và cách nhìn nhận khác nhau.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Viêm thì: Văn hóa đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp. Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực 9 của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước. Như vậy, văn hóa đọc ở nghĩa rộng là sự hợp thành của ba yếu tố, hay chính xác hơn là ba lớp như ba vòng tròn không đồng tâm, ba vòng tròn giao nhau. Còn ở nghĩa hẹp, đó là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân.
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực này cũng gồm ba thành phần: thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc [34, tr. Vậy về cơ bản, khái niệm văn hóa đọc dù ở nghĩa rộng hay nghĩa hẹp cũng đều có nội hàm như nhau, sự khác nhau ở đây là nhóm đối tượng tác động. Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của cộng đồng xã hội, là sự phát triển của các hội nghề liên quan đến đọc, như các hội: Hội tác giả, Hội nhà báo, Hội xuất bản, Hiệp hội Thư viện. Ứng xử đọc của cộng đồng xã hội còn cả truyền thông văn hóa xã hội, tôn vinh tác giả, những người viết sách, người truyền thụ kiến thức và cả người đọc sách.
Các hoạt động đa dạng, phong phú của các hội này đều nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn hóa đọc nói chung trong cộng đồng. Ứng xử, giá trị chuẩn mực đọc của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước, được thể hiện thông qua các chủ trương, chính sách, đường lối và các ứng xử hàng ngày, hay gọi là hành lang pháp lý, nhằm phát triển văn hóa đọc. Phát triển tài liệu có giá trị và lành mạnh, đáp ứng nhu cầu mọi đối tượng người đọc, tạo sự thuận tiện cho sự tiếp cận với tài liệu khác nhau. Bất cứ người đọc nào, không phân biệt vùng miền, văn hóa, trình độ đều có thể dễ dàng tiếp cận thông tin, tài liệu có giá trị mà họ mong muốn tìm hiểu, nhằm làm cho cuộc sống của họ tốt đẹp hơn, đời sống tinh thần phong phú hơn.
Ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân trong xã hội, trong cộng đồng là thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc của mỗi một con người. Trước hết là sự hình thành, phát triển và giữ được thói quen đọc, thói quen đọc được gây dựng, nuôi dưỡng từ tấm bé và định hình trong suốt cuộc đời. 10 Mục đích cuối cùng của phát triển văn hoá đọc là phát triển thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc cho mọi thành viên trong xã hội, những yếu tố quan trọng và đi được đến đích cuối cùng đó là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc lành mạnh của các cơ quan chức năng và cơ quan quản lý nhà nước, ứng xử đọc của cộng đồng xã hội và ứng xử đọc của mỗi quốc gia. Việc phát triển đồng đều của ba thành phần này góp phần phát triển nền văn hoá đọc.
Một trong ba thành phần trên không phát triển hoặc phát triển không lành mạnh cũng không thể có một nền văn hoá đọc phát triển, thậm chí có nguy cơ làm suy thoái ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của các thành phần khác. Theo tác giả, đọc sách là một quá trình tiếp nhận thông tin, tri thức. Quá trình đó nếu tiếp nhận và phát huy được vai trò của thông tin, của sách báo, biến nó thành một giá trị mới thì đó chính là văn hóa đọc. Quản lý Quản lý ở các góc độ nghiên cứu quản lý khác nhau, sẽ có rất nhiều định nghĩa về quản lý.
Các học giả trong và ngoài nước, đã đưa ra nhiều giải thích khác nhau, hay ở các trường phải quản lý học cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau, cụ thể: Theo F. W Taylor (1856-1915), ông là một trong nhóm những người đầu tiên nghiên cứu, khai sinh ra khoa học quản lý, ông cũng là ông tổ của “Quản lý theo khoa học”, khi tiếp cận ở góc độ về kinh tế và kỹ thuật, ông cho rằng “ Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [19, tr. Theo Henry Fayol (1886-1925), ông là người đầu tiên nghiên cứu, tiếp cận quản lý theo quy trình, cũng là người có tầm nhìn, có sự ảnh hưởng lớn từ thời cận hiện đại cho đến nay, ông đã nghiên cứu và định nghĩa về quản lý: “Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, phân 11 công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” [19, tr. Hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý là hoạt động của chủ thể quản lý, tác động vào một đối tượng nhất định có mục đích, để duy trì ổn định và phát triển đối tượng đó theo mục đích đã định.
Những quan điểm trên cho thấy, bản chất của quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, do đó quản lý là một hoạt động khách quan để đảm bảo mục tiêu chung. Như vậy, có thể hiểu bản chất của quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các hoạt động quản lý, chủ thể có thể là cá nhân hay tổ chức. Sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các công cụ và phương pháp thích hợp dựa trên các nguyên tắc nhất định. Đối tượng quản lý: là tất cả những gì chịu tác động của chủ thể quản lý trên cơ sở nguyên tắc và phương pháp nhằm đặt được mục tiêu và ý chí của chủ thể.
Mục tiêu quản lý: là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định theo kế hoạch, nguyên tắc và phương pháp của chủ thể quản lý. Quản lý văn hoá Quản lý nhà nước về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của nhà nước bằng câu luật và bộ máy của mình nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam, tiếp thu văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Từ cách hiểu trên, có thể làm rõ thêm nội hàm quản lý nhà nước về văn hoá, các thành tố cấu thành hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá. 12 Chủ thể quản lý nhà nước về văn hoá là Nhà nước, được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, quyền quản lý được phân cấp; cấp Trung ương, cấp tỉnh (tỉnh và các thành phố trực thuộc Trung ương), cấp huyện (huyện thuộc tỉnh, quận thuộc thành phố), cấp xã (xã thuộc huyện), phường thuộc quận).
Quản lý nhà nước về văn hoá ở cấp nào thì cơ quan nhà nước cấp ấy là chủ thể quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước về văn hoá ở cấp xã thì UBND xã là chủ thể quản lý nhà nước. Công chức văn hoá - xã hội xã được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về văn hoá giúp UBND xã có thể coi là chủ thể quản lý nhà nước về văn hoá trên địa bàn xã. Khách thể quản lý nhà nước về văn hoá là văn hoá và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực văn hoá hoặc có liên quan đến lĩnh vực văn hoá.
Văn hoá với tư cách là khách thể quản lý được hiểu theo nghĩa cụ thể là: các hoạt động văn hoá (trong đó có các dịch vụ văn hoá, hoạt động sáng tạo…) và các giá trị văn hoá (cụ thể là các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể). Mặt khác, theo sự phân công trong hệ thống các cơ quan nhà nước các cấp, không phải toàn bộ hoạt động văn hoá hiểu theo nghĩa rộng đều do ngành văn hoá quản lý. Văn hoá giáo dục, khoa học công nghệ,…do cơ quan giáo dục, khoa học công nghệ quản lý. Mục đích quản lý nhà nước về văn hoá là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.