CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE CÔNG NGHỆ PHUT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUA CỦA CÔNG TÁC PHỤT VỮA THÀNH CỌC 1. Công nghệ thi công cọc đồ tại chỗ được phun vữa thành cọc Đề tăng cường công tác kiểm soát việc phụt vữa vào bề mặt thành cọc, các ống phụt vữa được lắp theo chu vi của cọc từ cao độ mặt đất cho đến đáy của vùng được phụt vữa. Trong vùng phụt vữa, các van “Manchettes” được gia công trên các ống phụt vữa. Một đầu phụt vữa có gắn các van chặn bên trên và bên dưới vi trí van “Manchettes” sẽ được đưa vào ông phut vữa, vì vậy có thé cô lập từng van “Manchettes” riêng biệt và tiễn hành bơm vữa một cách có kiểm soát thông qua các van “Manchettes” ra bề mặt ngoài của CỌC 1.
Thành phần vữa Thanh phan vữa cho công tác phụt vữa cũng có nhiều cấp phối khác nhau. O đây xin giới thiệu cấp phối thường dùng của nhà thầu Bauer với thành phần chình bao gồm Xi măng Portland thông thường và các phụ gia trộn với nước để đạt được các thông số như yêu câu. Cấp phối đề xuất như sau: e 100 kg xi măng e 50 lít nước e =| lít phụ gia Sikament Vita được sử dung cho các công tac kiểu nay thông thường yêu cầu độ nhớt do bang phéu khoảng 30-50s và duy trì khả năng làm việc trong thời gian 30-40 phút. Thanh phan hợp thành của vữa sẽ được đo lường riêng biệt cho từng loại theo khối lượng hoặc theo thé tích.
Mẫu yêu cau lẫy từ lay từ mỗi cọc hoặc từ mỗi mẻ trộn sẽ được dùng cho thí nghiệm nén mâu. Thiết bị thi công 1. Ông phun vữa: Các ống phun vữa (TAM) là các ống thép đen có đường kính danh định là 60mm, day 2mm. Các ông nay được gia công để chế tạo các van “Manchettes” để phun vữa.
Quá trình gia công bao gồm việc khoan 04 lỗ đường kính 8mm cách nhau 1m dọc theo ống phun vữa và bọc mảng cao su bên ngoài tại vị trí các lỗ. Ông phun vữa được gia công lỗ tại vùng cần phụt vữa theo yêu cau, hai đầu ống phun vữa sé được nôi với nhau băng ông nôi đê thuận tiện cho việc hàn nồi tại chỗ Ông phun vữa được lắp vào trong cọc khoan nhỏi với lồng thép bang cách nối các ống với nhau băng các ông nói (Coupler) và hàn lại với nhau. Độ thăng phải được kiểm tra cho các ống được hạn tại chỗ. Các ốc kẹp chữ “U” thường được sử dụng để định vị các ống phut vữa vào bên ngoài lồng thép khi nó hạ vào hỗ khoan.
Các ông sẽ được bô trí đêu quanh lông thép của cọc. Các điêm phụt vữa sẽ năm cách nhau Im theo phương thăng đứng cho vùng phut vữa. Thông thường, số lượng ống được bố trí như sau Bảng 1.1: Số lượng ống phụt vữa và đường kính cọc Đường kính cọc Số lượng ông Khoảng cách lý (mm) phụt vữa thuyết (m) 1000 4 0.98 Ngay sau khi hoàn thiện công tác bê tông và rút ống vách tạm, độ sâu của ống phun vữa phải được kiểm tra lại băng thước. Nếu phát hiện có vật liệu khác trong ống phải được thôi sạch cho đến khi đạt đúng độ sâu của ống Hình 1.1: Ông phun vữa được lắp vào bên ngoài lông thép Hình 1.2: Bồ trí các van “Manchester” dọc theo ông phun vữa ` /Cac vong cao su sé che cai 16 khoan doc theo ống phụt vữa va ngăn không cho vữa chảy ngược lại vào ống Hình 1.3: Chi tiết van “Manchettes” và packer 1.
Packer: Vita được cấp đến vị trí các van “Manchettes” thông qua ống HDPE có đường kính trong khoảng 1. Đầu phun vữa bao gồm 1 packer cau tạo bởi 2 van có khả năng trương phông để giữ áp suất trong quá trình bom vữa. Một ống áp suất cao đường kính nhỏ được găn bên cạnh ống cấp vữa với mục đích làm trương phông van chặn thông qua bơm tay. Công tác bơm vữa thường được thực hiện với áp lực từ 25 đến 55 bars.
Van chặn thông thường được bơm căng phông lên đến áp lực khoảng 60 bars trước khi tiễn hành bơm vừa. Packer sẽ có đường kính trước khi bơm căng nhỏ hơn đường kính của ông bom vữa. Nếu các packer này bị vướng, nó có thể thay băng packer nhỏ hơn. Tuy nhiên, loại packer nhỏ sẽ áp lực căng phông nhỏ hơn dẫn đến sẽ phải phun vữa với áp lực nhỏ hơn.
Thiết bị trộn vữa Thiet bị trộn sẽ phải là thiết bị trộn vữa toc độ cao có gan với bơm tuân hoàn- Bauer BMI00 hoặc tương đương. Vita thông thường sẽ được trộn từ 500 đến 700 lít cho mỗi mẻ trộn và các thành phan sẽ được thêm vào dựa theo trọng lượng khô. Lượng nước sẽ được kiểm soát từ thùng đã kiểm tra khối lượng trước đó hoặc từ bơm có kiểm chuẩn. Thiết bị bơm Bơm sẽ dùng để bom từ máy trộn dé Packer thông qua bom Bauer KP60 hoặc thiết bi tương đương.
Bơm KP60 là loại bơm thủy lực song động với áp suất tối đa là 100 bars. Bom nay được găn với máy đếm nhịp đếm số lượng nhịp được tạo ra và từ đó có thể biết được khối lượng vữa đã bơm (Mỗi nhịp tương đương khoảng 3 lít). Bơm cũng được găn với đồng hô áp suat đề kiêm tra áp suât bơm Ngoài ra còn có sử dung bơm tay T-50K hoặc tương đương dé làm căng phông van chặn 2 dau cua packer. Quy trình phun vữa áp lực cao 1.
Thông các van “Manchettes” Khi ống phun vữa được hạ và đồ bê tông cùng với cọc nhỏi, cần thiết phải làm thông vùng bê tông giữa ống phụt vữa và thành cọc trước khi bê tông đạt được cường độ quá cứng. Dé thực hiện quá trình này, các packer được hạ xuống đến đáy của ống phun vữa và rút lên cách khoảng 1m từ đáy lên cho đến hết vùng phụt vữa. Tại môi vi trí các van “Manchettes”, 2 dau của packer sẽ được bơm căng lên và chặn 2 dau, nước sé được bơm vao vi trí các van “Manchettes” đề tạo ra đường di chuyên xuyên qua bê tông cho vữa bơm sau này. Công tác phut vữa phải được tiễn hành sau khi bê tông đã hình thành cường độ nhưng không được quá cứng.
Trong thực tế, công tác thông các van “Manchettes” hiệu quả nhất khoảng 12h sau khi bê tông đạt cường độ. Sau khi thông các van “Manchettes”, các ng phut vữa sẽ được kiểm tra lại chiều sâu và vệ sinh nếu cần thiết. Các nắp tạm sẽ được dùng để bảo vệ ống phụt vữa. Công tác phụt vữa Sau một khoảng thời gian xác định trước sau công tác thông van “Manchettes”, công tác phụt vữa có thể tiễn hành.
Các nắp tạm sẽ được mở và kiểm tra lại chiều sâu của ống phụt vữa. Một lượng vữa yêu cầu sẽ được bơm qua van “Manchettes” và đến bề mặt tiếp xúc của cọc và đất. Các packer sẽ được xả căng và di chuyển đến vị trí phụt vữa kế tiếp. Luong vữa yêu cầu được bơm khoảng 35 lit/m2 của bề mặt cọc.
Công tác phụt vữa sẽ được dừng khi mà lượng vữa yêu cầu đạt được hoặc đạt áp lực tối đa là 60 bars. Nếu lượng vữa phụt tại bat kỳ van “Manchettes” nào không đạt yêu cầu do đã đạt đến áp lực tối đa hoặc ống bị hư hỏng làm cản trở việc di chuyển packer hoặc phụt vữa, công tác phụt vữa sẽ được bù tại vi trí van “Manchettes” kê tiệp. Đánh giá hiệu quả trong việc gia tăng sức chịu tải của coc bằng công nghệ phụt vữa thân. Trong khi không lý do gì đặc biệt để cho rằng răng ma sát do ma sát của cọc có phụt vữa thành cọc trong đất cát sẽ giảm theo thời gian nhưng với đất sét thì có phân ít tự tin hơn cho cọc có phụt vữa.
Vì vậy các cọc thí nghiệm tại Bangkok được thực hiện thí nghiệm lại cho coc đã thí nghiệm trước đó khoảng | năm và rút ra các kết quả như sau. Hiệu qua của tinh ồn định của cọc có phụt vữa trong đất sét. Kết quả thí nghiệm lại sau lần thí nghiệm dau được thé hiện ở hình minh họa đưới, thé hiện được biểu dé giữa giá trị lực và chuyển vị đầu cọc. Một lần nữa, cọc được gia tải lại như được thực hiện lại một chu kỳ khác của thí nghiệm ban đầu.
Vấn đề gap phải cho lần thí nghiệm đầu với khả năng chịu tải của phan mũi coc do vi tri của mũi cọc được đặt ngay phía trên lớp đất sét và rất khó khăn để vệ sinh đáy mũi cọc. Bằng chứng cho những van dé nay lặp lại trong thí nghiệm thử lại đã được chỉ ra bằng sức kháng mũi không được huy động. Tuy nhiên, nó được kết luận rằng thí nghiệm thử lại đã chứng tỏ không có sự mắt mát khả năng chịu tải kể từ thí nghiệm ban đầu của cọc. Tải trọng đầu cọc (KN) he a Bsn = Bà ca E = oO ion © > = OO TH 5 a —— ~ ome E = "4 ) Pe mn Bape > — ees a inna lũ : = 3 “ | Pe cat Pe HỆ o> = — L s— Hình 1.5: Tải trong và chuyển vị ddu cọc cho cọc có phut vữa trong đất sét ở giai đoạn gia tai ban dau và gia tải lại (Nghiên cứu: Shaft grouted piles in sand and Clay in Bangkok) 1.
Kha năng 6n định lâu dai của cọc có phụt vữa thành coc trong dat cát. Các kết quả đã chứng tỏ rằng việc thí nghiệm lại sau 1.5 năm sau khi lần đầu thí nghiệm của cọc được thé hiện trong hình minh họa bên dưới thể hiện mối tương quan giữa lực và chuyển vị đầu cọc. Cọc được gia tải như là thực hiện lại chu kỳ gia tải khác của thí nghiệm ban đầu. Một khi vượt qua giá trị lực lớn nhất của lần trước phản ánh việc gia tăng sự huy động sức chịu tải ở mũi 10 Tái trọng dau cọc (KN) oe ^ ° a 3 a ổ a " | ¬S | | “A | I | N i i] Nơi $ ` | 00 dCh(vaumcyiọé)n _ ~~ — g 1 | -—~ —-.6: Tải trong và chuyển vị đấu cọc cho cọc có phụt vữa trong đất cát ở giai đoạn gia tai ban dau và gia tải lại (Nghiên cứu: Shaft grouted piles in sand and Clay in Bangkok) 1.
Co chế của việc gia tăng kha năng chịu tai của cọc có phụt vữa Theo quan sát thực tẾ tại Bangkok cho đất sét pha cát thì khối lượng vữa được phụt dọc theo thành cọc vào vùng đất xung quanh tương đương với độ dày khoảng 25 mm xung quanh chu vi thành coc ở vùng phut vữa.