CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Lý luận về thuế thu nhập doanh nghiệp 1.1 Khái niệm thuế Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển tồn tại của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ. Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Lịch sử càng phát triển, các hình thức thuế khoá và pháp luật thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định và được quy định công khai bằng luật pháp của Nhà nước. Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận thuế dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đứng trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dưới khái niệm như sau: “Thuế là các khoản thu có tính chất bắt buộc mà các đơn vị kinh tế, các tổ chức, cá nhân bắt buộc phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
Thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu của NSNN. Thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân đối với đất nước" (PGS. TS Nguyễn Đăng Dờn, 2017) 1.2 Vai trò của thuế - Là nguồn thu chủ yếu của NSNN Đây là vai trò đầu tiên của thuế. Mỗi loại thuế Nhà nước ban hành điều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước.
Nguồn thu vào Ngân sách Nhà nước bao gồm nhiều loại, nhưng thuế là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước. - Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội Thuế không chỉ là công cụ tài chính nhằm huy động khoản thu chủ yếu cho Nhà nước, thuế còn được Nhà nước sử dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội, hướng nền kinh tế phát triển theo cơ cấu được xác định, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các vùng, miền, trên cơ sở khai thác mọi nguồn lực sẵn có. Bên cạnh đó, thuế cũng góp phần ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát. 19 Chính sách thuế góp phần định hướng đầu tư trong nước, thu hút đầu tư từ nước ngoài, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước thông qua thuế suất, các ưu đãi thuế, miễn giảm thuế, … khi đầu tư mới theo vùng lãnh thổ hay ngành kinh tế.
Từ đó góp phần vào việc tái cấu trúc nền kinh tế theo ngành và vùng lãnh thổ giúp phân bổ hợp lý các nguồn lực kinh tế xã hội. Thông qua thuế suất, miễn giảm thuế hay quy định về các trường hợp chịu thuế, không chịu thuế. Chính sách thuế có thể khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh ngành nghề hoặc sản phẩm nào đó, góp phần vào việc xác lập quan hệ cân đối giữa cung – cầu hàng hóa, dịch vụ và tác động đến cân bằng thị trường. - Công cụ điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội Thông qua chính sách thuế Nhà nước, thiết lập sự công bằng tương đối trong xã hội, thực hiện điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư vốn bị phân hóa khi phát triển nền kinh tế thị trường, tạo sự công bằng xã hội.
Nếu không có sự can thiệp của Nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao: một số ít người sẽ giàu lên nhanh chóng, đa số người dân còn lại có mức thu nhập thấp. Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một cộng đồng, sẽ không công bằng nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi người, bởi vậy cần có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu quả bằng cách sử dụng công cụ thuế.3 Các yếu tố cơ bản hợp thành luật thuế Hệ thống thuế gồm nhiều luật thuế với nội dung và phạm vi khác nhau, nhưng các luật thuế đều có những yếu tố cấu thành cơ bản sau: - Tên gọi của luật thuế Đây là yếu tố không thể thiếu của bất kỳ loại thuế nào để phân biệt giữa các loại thuế. Tên gọi xác định chính thức một loại thuế được ban hành. - Đối tượng đánh thuế (đối tượng để xác định mức thuế phải nộp) Đối tượng đánh thuế là mục tiêu tác động của thuế.
Thông thường đối tượng đánh thuế là các hàng hóa, dịch vụ, thu nhập hay tài sản. - Đối tượng không chịu thuế Đối tượng không chịu thuế không là mục tiêu tác động của thuế. Đối tượng không thuộc diện chịu thuế thường là các hàng hóa, dịch vụ, thu nhập hay tài sản 20 được liệt kê trong danh sách các đối tượng không thuộc diện chịu thuế do luật thuế quy định. - Người nộp thuế Người nộp thuế là các tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm phải nộp thuế theo luật định.
Tùy thuộc vào tính chất trực thu hay gián thu của thuế, người nộp thuế có thể là người chịu thuế hay chỉ là người có trách nhiệm pháp lý phải nộp khoản tiền thuế đã nhận của người chịu thuế vào Kho bạc Nhà nước - Căn cứ tính thuế Mỗi loại thuế có căn cứ tính thuế khác nhau. Tuy nhiên, các luật thuế đều căn cứ vào: Thuế suất và giá trị của đối tượng chịu thuế. - Thuế suất Thuế suất là mức thu quy định theo tỷ lệ phần trăm của nhà nước, là một trong các căn cứ tính thuế. Mỗi loại thuế có biểu thuế với các mức thuế suất khác nhau, nhằm thực hiện yêu cầu của nhà nước đặt ra cho một loại thuế.
- Miễn thuế, giảm thuế Số thuế được miễn hoặc giảm, thực chất là số phải nộp nhưng được để lại cho người nộp thuế, như vậy yếu tố này hoàn toàn khác với trường hợp không chịu thuế quy định trong luật thuế. Trên thực tế có những yếu tố hay hoàn cảnh khách quan hoặc chủ quan gây tác động bất lợi cho người nộp thuế. Có thể dẫn đến sự thiệt hại về tài sản, sút giảm thu nhập; trong khi thuế suất thường áp dụng chung không tính đến từng trường hợp cụ thể và thường ổn định trong một thời gian dài. Khi đó, chính yếu tố miễn giảm sẽ hỗ trợ để tạo sự công bằng trong điều tiết thu nhập giữa các tổ chức và cá nhân.
Mục đích miễn giảm trong trường hợp này còn mang ý nghĩa hỗ trợ cho người nộp thuế khi gặp khó khăn trong đời sống. Trên góc độ kinh tế, chính sách thuế còn được Nhà nước sử dụng như công cụ nhằm điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Các quy định miễn giảm thuế có tác dụng trong việc khuyến khích đầu tư mới hay theo chiều sâu; khuyến khích đầu tư vào những ngành nghề hoặc vùng lãnh thổ theo định hướng của nhà nước, từ đó góp phần cơ cấu lại nền kinh tế. Như vậy, yếu tố miễn giảm cho phép Nhà nước sử dụng công cụ thuế một cách linh hoạt hơn, ngoài ra còn “mềm hóa” yếu tố thuế suất, giúp chính sách thuế 21 có thể tiếp cận đến các trường hợp cụ thể.
Tuy nhiên, miễn giảm thuế cũng có những tác động tiêu cực như : làm phức tạp luật thuế; tăng quyền lực cho cơ quan thuế, do đó bị lợi dụng nhằm mục đích trục lợi không hợp pháp; làm giảm tính chặt chẽ của luật thuế 1.4 Phân loại thuế Có nhiều tiêu chí phân loại thuế tùy vào mục đích nghiên cứu, trong luận văn này, tác giả sử dụng hai cách phân loại sau: Căn cứ vào phương thức đánh thuế trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập, hệ thống thuế thành hai loại : thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu : Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế. Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế đồng thời là đối tượng chịu thuế. Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập vào NSNN, do đó, thuế trực thu có tác dụng điều hòa thu nhập, bảo đảm tính công bằng xã hội.
Trong hệ thống thuế hiện hành, thuế trực thu gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân, Thuế tài nguyên, Thuế sử dụng đất nông nghiệp, Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. - Thuế gián thu : Là loại thuế đánh gián tiếp vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ. Người tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ là người chịu loại thuế này. Thuế gián thu có đặc điểm là người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau.
Ưu điểm của thuế gián thu là đối tượng chịu thuế rất rộng. Thuế gián thu được xác định qua giá bán hàng hóa, dịch vụ nên người chịu thuế ít có cảm giác gánh nặng về thuế. Trong hệ thống thuế hiện hành, thuế gián thu gồm : Thuế giá trị gia tăng, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, Thuế bảo vệ môi trường.5 Tổng quan thuế thu nhập doanh nghiệp 22 Khái niệm của thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế Thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định thường là một kỳ kinh doanh. Đặc điểm chung của thuế Thuế TNDN là thuế trực thu, tính chất trực thu của loại thuế này được biểu hiện ở sự đống nhất giữa đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, Do đanh vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp nên mức động viên vào NSNN đối với loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Tính bắt buộc Thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước. Tính bắt buộc của thuế thể hiện: đối với người nộp thuế buộc phải chuyển giao một phần tài sản của mình cho nhà nước dưới hình thức nộp thuế, nếu không thực hiện thì sẽ bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết. Còn đối với cơ quan thuế phải thực hiện việc thu thuế đối với mọi tổ chức, cá nhân và không có sự ưu tiên với bất kỳ người nộp thuế nào. Tính không hoàn trả trực tiếp Khi nộp thuế người nộp sẽ không nhận lại một số tiền tương đương với khoản thuế đã nộp mà chỉ nhận được những lợi ích không thể xác định rõ như: phúc lợi xã hội, cơ sở hạ tầng, an ninh trật tự… Tính pháp lý cao Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật- Các Luật thuế.