CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG KHI SỬ DỤNG DỊCH VỤ 1. KHÁI QUÁT CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ở nước ngoài Mô hình liên quan đến CLDV cảm nhận lần đầu tiên được phát triển bởi Parasuraman et al. Các tác giả xác định mười khía cạnh (hữu hình, độ tin cậy, khả năng đáp ứng, năng lực, lịch sự, độ tin cậy, bảo mật, truy cập, giao tiếp và hiểu biết khách hàng) để đo lường CLDV.
Nghiên cứu nhận thấy có sự khác biệt giữa hiệu suất nhận thức và hiệu suất mong đợi của các yếu tố quyết định CLDV tổng thể. Sau đó, Parasuraman và cộng sự (1988) đã sửa đổi mô hình này và CLDV được coi là “sự đánh giá hoặc thái độ liên quan đến tính ưu việt của dịch vụ” và phát triển một công cụ gồm 22 tiêu chí, được sử dụng rộng rãi như một công cụ chung để đo lường CLDV, đại diện cho năm khía cạnh: độ tin cậy, khả năng đáp ứng, phương tiện hữu hình, sự đảm bảo và sự đồng cảm. Mô hình khái niệm của Parasuraman et al. (1988) có thể dùng làm cơ sở để hiểu được mong đợi của khách hàng và CLDV.
Bên cạnh đó, Parasuraman và cộng sự (1988), Flavian và cộng sự (2004) tìm thấy các yếu tố khác có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ như: khả năng tiếp cận dịch vụ, dịch vụ được cung cấp, bảo mật và danh tiếng. Khách hàng luôn đòi hỏi sự an toàn về bảo mật thông tin cá nhân và tài chính của khách hàng nên không thể thiếu khi đánh giá CLDV. Joseph và cộng sự (1999) sử dụng các chỉ số chất lượng dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng. Họ đo lường tác động của công nghệ đến việc cung cấp dịch vụ.
Tuy nhiên, nghiên cứu đã bỏ qua các khía cạnh chất lượng để đo lường vai trò của công nghệ. Nghiên cứu của Lassar và cộng sự (2000) đã chỉ ba tiêu chí phản ánh chất lượng dịch vụ, bao gồm: mức độ hài lòng về CLDV; sự sẵn sàng giới thiệu dịch vụ cho những người khác; sự cam kết tiếp tục sử dụng dịch vụ (lòng trung thành). 7 Flavian và cộng sự (2004) đã xác định các khía cạnh CLDV khác nhau và chúng được sử dụng độc lập các biến. Nghiên cứu khẳng định rằng, các yếu tố như khả năng tiếp cận đến dịch vụ, dịch vụ được cung cấp kịp thời, an ninh và danh tiếng là các yếu tố phản ánh chất lượng dịch vụ và không thể thiếu khi đo lường chất lượng dịch vụ.
Kumar và cộng sự (2009), khảo sát mối quan hệ giữa CLDV và sự hài lòng của 56 khách hàng sử dụng dịch vụ của ngân hàng Hồi Giáo và 231 khách hàng sử dụng dịch vụ tại các ngân hàng khác ở Malaysia bằng mô hình đo lường SERVQUAL của Parasuraman & cộng sự (1988) với 5 nhân tố gốc ban đầu, kết quả cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến CLDV các ngân hàng tại Malaysia bao gồm: sự tin cậy; phương tiện hữu hình; sự thuận tiện; năng lực phục vụ. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ rõ mức độ tác động của từng biến trong mô hình nghiên cứu đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng tại đất nước này. Yavas và cộng sự (2004), nghiên cứu về mối quan hệ giữa CLDV, sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua dữ liệu khảo sát 226 khách hàng đang sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng tại ngân hàng ở Đức. Các tác giả đã phát hiện ra CLDV có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi khiếu nại, kiến nghị và chuyển đổi nhu cầu sử dụng của khách hàng và ảnh hưởng sự hài lòng của khách hàng.
Đặc biệt, tại Đức yếu tố Phương tiện hữu hình có ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng của khách hàng. Có thể nói, nghiên cứu về CLDV nói chung và CLDV của các ngân hàng nói riêng là chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và sử dụng nhiều mô hình nghiên cứu với các đối tượng, khách thể nghiên cứu khác nhau. Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu có thể có sự trùng lặp ở một số yếu tố tạo nên CLDV nhưng có sự khác biệt cơ bản về mức độ tác động. Sở dĩ có sự khác biệt trên là do các nhà nghiên cứu sử dụng các mô hình nghiên cứu khác nhau; sự khác nhau về văn hóa, nhận thức; thói quen tiêu dùng…của khách hàng và triết lý kinh doanh của các ngân hàng khác nhau là khác nhau.
Nghiên cứu chất lượng dịch vụ ở Việt Nam Trong thời gian qua, nghiên cứu về CLDV của các ngân hàng tại Việt Nam đã được rất nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu dưới các khía cạnh khác nhau, nổi bật có các nghiên cứu sau: Nghiên cứu “Đánh giá chất lượng dịch vụ của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam từ góc độ sự hài lòng của khách hàng” của tác giả Trần Thị Thanh Thúy (2017) nhằm tìm hiểu về chất lượng dịch vụ của các NHTM tại Việt Nam dưới góc nhìn của sự hài lòng của khách hàng. Mô hình đo lường SERVQUAL được phát triển bởi Parasuraman et al trong đó các nhân tố cấu thành chất lượng dịch vụ ngân hàng được phân tích trong tài liệu gồm: sự tin cậy, phương tiện hữu hình, đồng cảm, năng lực phục vụ và đáp ứng. Theo nghiên cứu, năng lực cạnh tranh và chất lượng dịch vụ của các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn chưa cao, chưa đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng, dẫn đến sự không hài lòng của khách hàng. Cuối cùng, tác giả đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam để đáp ứng được mong muốn của khách hàng.
Hà Thạch (2012) đã sử dụng mô hình SERVQUAL và mở rộng thành 7 biến với 29 tiêu chí để khảo sát CLDV tại Agribank - Chi nhánh Quảng Nam. Tác giả đã khẳng định, các nhân tố trong mô hình nghiên cứu đề xuất đều có ảnh hưởng lớn đến CLDV của hệ thống Agribank. Dưới cách tiếp cận khác, tác giả Nguyễn Thị Thu Đông (2012), sử dụng mô hình định lựợng Logistic, phân lớp nhằm nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng của khách hàng pháp nhân tại Vietcombank - chi nhánh Đà Nẵng. Tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao CLDV tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam.
Nguyễn Thành Công (2017) nghiên cứu về CLDV tài chính tại các NHTM ở Việt Nam thông qua kết quả khảo sát các biến của mô hình SERVQUAL và bổ sung thêm nhân tố “Tiếp cận” vào mô hình nghiên cứu SERVQUAL của Parasuraman và ctg (1985) cho phù hợp với tâm lý tiêu dùng tại Việt Nam. Phân tích dữ liệu khảo sát, tác giả khẳng định, yếu tố “Nhân viên phục vụ” có mức độ tác động lớn nhất đến chất lượng dịch vụ tài chính. 9 Phạm Thùy Giang (2012), nghiên cứu so sánh CLDV ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam trên địa bàn Hà Nội thông qua so sánh mức độ phù hợp của mô hình SERVQUAL của Parasuraman & ctg (1988) và mô hình Nordic của Gronroos (1984). Kết quả nghiên cứu cho thấy CLDV ngân hàng bán lẻ của ngân hàng có 100% vốn nước ngoài có sự khác biệt đáng kể với CLDV của các NHTM cổ phần Việt Nam.
Có thể nhận thấy, tại Việt Nam, nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao CLDV cho các NHTM được các học giả quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh khác nhau và với các mẫu khảo sát khác nhau. Các kết luận, phát hiện từ công trình đã công bố của các tác giả giúp học viên tổng quan lý thuyết nghiên cứu nền tảng làm cơ sở phát triển nghiên cứu này. NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng ở nước ngoài Loke, Noor, Khalid (2012) nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng tại Malaysia theo các đặc tính về chất lượng dịch vụ NHĐT sử dụng thang đo SERQUAL trên 172 khách hàng.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra 3 đặc tính của dịch vụ NHĐT có vai trò quan trọng đối với sự hài lòng của khách hàng là tính an toàn, tính bảo mật, tính hỗ trợ, trong đó tính an toàn và tin cậy là quan trọng nhất. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, các yếu tố nhân khẩu (độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấn) ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Nochai (2013) sử dụng thang đo SERVQUAL để nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng cá nhân về chất lượng dịch vụ NHĐT ở Bangkok, Thái Lan. Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự hài lòng thể hiện ở nhận thức về 7 đặc tính của chất lượng dịch vụ, gồm tính đáp ứng, tính bảo mật và an toàn, tính hấp dẫn của các thông tin, tính dễ sử dụng, tính tin cậy, tính hỗ trợ.
Nghiên cứu của các tác giả Ariff, Yun, Zakuan và Ismail, (2013) được khảo sát trên 265 khách hàng ở Mã Lai cho thấy sự hài lòng của khách hàng biểu hiện ở nhận thức về 5 đặc tính của chất lượng dịch vụ NHĐT, bao gồm tính dễ sử dụng, tính bảo mật, tính an toàn, tính hỗ trợ, chất lượng thông tin của trang web được biểu hiện qua nhận thức của họ. Sự hài lòng của khách 10 hàng ảnh hưởng mạnh đến lòng trung thành của họ với dịch vụ NHĐT. Rychalski, Aude (2014) khảo sát 1440 khách hàng đã thực hiện các cuộc gọi điện thoại đến Trung tâm chăm sóc khách hàng sử dụng dịch vụ điện tử ở Pháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cảm xúc tích cực từ các cuộc gọi tạo nên sự hài lòng cho khách hàng, cảm xúc tiêu cực liên quan đến sự không hài lòng.
Cảm xúc tích cực từ các cuộc gọi ảnh hưởng đến quyết định sử dụng tiếp tục dịch vụ điện tử của nhà cung cấp, không chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ điện tử, tham gia vào quảng cáo truyền miệng tích cực về dịch vụ điện tử. Nghiên cứu của các tác giả Justin Paul & cộng sự (2016) dữ liệu thu thập được từ 500 khách hàng tại Ấn Độ, trong đó 250 là khách hàng của các ngân hàng khu vực tư nhân và 250 người là khách hàng của các ngân hàng khu vực công. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, đối với các ngân hàng tư nhân thì kiến thức về sản phẩm, đáp ứng nhu cầu, giải quyết thắc mắc, dịch vụ nhanh chóng, kết nối nhanh với đúng người và nỗ lực giảm thời gian chờ đợi của khách hàng được cho là những yếu tố có liên quan tích cực đến sự hài lòng.