CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ LOGISTICS ĐẦU VÀO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái niệm, vị trí và đặc điểm của Logistics đầu vào của DNSX 1. Khái niệm và vị trí logistics đầu vào Có nhiều định nghĩa khác nhau về logistics với các cách tiếp cận khác nhau. Khái niệm sử dụng phổ biến nhất là của Hội đồng quản lý Logistics của Hoa Kỳ.
Theo đó “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hoá, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm suất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”. Quá trình logistics tại doanh nghiệp được chia làm 3 phần là logistics đầu vào, logistics đầu ra và logistics ngược trong sơ đồ 1. Logistics ngược Logistics ngược Quá trình cung ứng Quá trình phân phối nguyên vật liệu hàng hóa Nhà Dòng nguyên nhiên liệu DN Dòng hàng hóa cung sản Khách ứng xuất hàng Dòng thông tin Dòng thông tin Mua và quản lý nhà cung ứng Dự báo nhu cầu, DVKH Quản lý vật tư, NVL TK kênh logistics đầu ra Vận chuyển, dự trữ, kho bãi Vận chuyển, dự trữ NVL Bao gói, chất xếp Bao gói, chất xếp Logistics đầu vào Logistics đầu ra Sơ đồ 1. Sơ đồ minh họa về Logistics đầu vào và đầu ra tại DNSX.
Nguồn:[1] Luan van 9 Mô hình cho thấy logistics đầu vào bao gồm toàn bộ quá trình dịch chuyển vật tư, nguyên vật liệu và các bộ phận linh kiện sản phẩm từ các nhà cung cấp khác nhau và qua nhiều công đoạn khác nhau đến với khâu sản xuất tại doanh nghiệp. Có thể hiểu, Logistics đầu vào là một phần của hệ thống logistics tại các doanh nghiệp và là toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần phải kiểm soát dòng dịch chuyển này, không chỉ đảm bảo cung cấp đầy đủ các yếu tố đầu vào hữu hình cho quá trình sản xuất, kinh doanh được tiến hành đúng mục tiêu, mà còn phải đảm bảo sử dụng nguồn lực tài chính ít nhất và chi phí bỏ ra thấp nhất. Đối với doanh nghiệp sản xuất, logistics có một vai trò hết sức quan trọng là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC-Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế.
Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp. Là một phần của hệ thống logistics tại doanh nghiệp sản xuất, logistics đầu vào có vai trò sau: - Logistics đầu vào góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí kinh doanh, tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp. - Logistics đầu vào góp phần tối ưu hóa dòng nguyên vật liệu tại doanh nghiệp sản xuất nhờ vào việc phân bổ mạng lưới kho bãi và các điều kiện phù hợp để vận chuyển nguyên vật liệu.
Mặt khác, các mô hình quản lý và phương án tối ưu trong dự trữ, vận chuyển, mua hàng,…cùng hệ thống thông tin hiện đại sẽ tạo điều kiện cung cấp nguyên liệu nhanh với chi phí thấp, cho các doanh nghiệp thực hiện hiệu quả các hoạt động logistics đầu vào của mình. Luan van 10 - Logicstics đầu vào hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là một nguồn lợi tiềm năng cho doanh nghiệp. Hoạt động logistics đầu vào tốt sẽ tạo ra rất nhiều lợi thế cho doanh nghiệp và thúc đẩy hiệu quả sản xuất một cách rõ rệt. Trong doanh nghiệp sản xuất, mọi nguồn lực đều tập trung để hỗ trợ và thúc đẩy cho bộ phận sản xuất vì vậy việc cung cấp nguyên vật liệu đầu vào là rất quan trọng.
Logistics đầu vào tốt sẽ đảm bảo được hiệu quả sản xuất là cao nhất, tối ưu hóa được chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho bãi, chi phí thu mua và tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đặc điểm Logistics đầu vào Theo sơ đồ 1.1, logistics đầu vào là một phần của hệ thống logistics vì vậy, nó vừa mang đặc điểm chung của logistics như sau - Logistics là một quá trình, điều đó có nghĩa Logistics không phải là một hoạt động riêng lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, liên quan mật thiết và tác động qua lại với nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống qua các bước: nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và hoàn thiện. - Logistics liên quan đến tất cả các nguồn tài nguyên các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Nguồn tài nguyên không chỉ có vật tư, nhân lực mà còn bao gồm cả dịch vụ, thông tin và bí quyết công nghệ.
- Logistics tồn tại ở cả hai cấp độ: hoạch định và tổ chức. Ở cấp độ thứ nhất, vấn đề đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hay dịch vụ…Ở đâu? Vào khi nào? Và vận chuyển chúng đi đâu? Cấp độ thứ hai quan tâm tới việc làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên, các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng, từ đây nẩy sinh vấn đề vận chuyển và lưu trữ. Bên cạnh đó, Logistics đầu vào có một số đặc điểm riêng như - Logistics đầu vào của doanh nghiệp sản xuất tập trung vào cung ứng nguyên nhiên vật liệu. Chính vì vậy, phương thức vận chuyển, lưu trữ và bảo quản sẽ khác biệt số với đối tượng là thành phẩm và hàng hóa.
Luan van 11 - Logistics đầu vào gắn chặt với mạng lưới nhà cung ứng. Vận chuyển nguyên nhiên vật liệu có thể được thiết kế theo phương án khác nhau để đưa hàng hóa từ nhà cung ứng tới doanh nghiệp. Đây là quá trình mà doanh nghiệp phải tính toán để có một phương án hợp lý nhất theo đặc thù nguyên nhiên vật liệu, theo cách thức tổ chức và theo quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp sản xuất có những phương án khác nhau để đưa NVL tới nơi sản xuất nhưng đều chung một mục tiêu đó là đảm bảo quá trình sản xuất, nâng cao hiệu quả quá trình vận chuyển và tối ưu chi phí vận chuyển.
Hoạt động Logistics đầu vào của doanh nghiệp sản xuất và các nhân tố ảnh hưởng 1. Hoạt động Logistics đầu vào của doanh nghiệp sản xuất Tại các DNSX, logistics đầu vào bao gồm một số các hoạt động cơ bản sau 1. Hoạt động mua hàng Mua hàng là hoạt động của doanh nghiệp sản xuất nhằm tạo nguồn lực đầu vào, góp phần thực hiện các quyết định của dự trữ, đảm bảo vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm đầu vào cho quá trình sản xuất. Mua hàng tại DNSX được hiểu là hệ thống các mặt công tác nhằm tạo nên lực lượng vật tư, nguyên liệu, bán thành phẩm… cho doanh nghiệp, đáp ứng các yêu cầu dự trữ và sản xuất với tổng chi phí thấp nhất.
Mua hàng có vai trò giúp doanh nghiệp sản xuất đảm bảo bổ sung dự trữ kịp thời, đáp ứng các yêu cầu vật tư nguyên liệu của quá trình sản xuất, tránh hiện tượng gián đoạn sản xuất, tận dụng tốt nhất công suất sản xuất. Đồng thời mua hiệu quả giúp giảm chi phí, tăng hiệu quả sử dụng vốn và do đó tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp. Mục tiêu của mua hàng nhằm vào là hợp lý hóa dự trữ, đáp ứng những yêu cầu của dự trữ, đảm bảo bổ sung dự trữ hợp lý vật tư, nguyên liệu về số lượng, chất lượng và thời gian. Mua hàng cũng nhằm vào mục tiêu giảm chi phí, đây cũng là mục tiêu cơ bản của mua hàng nhằm giảm giá thành vật liệu, tạo điều kiện để giảm Luan van 12 giá thành sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Mục tiêu phát triển các mối quan hệ cũng không kém phần quan trọng tại các doanh nghiệp tham gia vào các chuỗi cung ứng. Để phát triển, doanh nghiệp luôn cần phải tạo dựng các mối quan hệ với khách hàng và nguồn cung ứng. Mua hàng trong logistics đầu vào giúp tạo mối quan hệ tốt với nguồn cung ứng tiềm năng và cải thiện mục tiêu kinh doanh cho doanh nghiệp. Hoạt động mua hàng tập trung vào các chiến lược, chính sách mua và quản lý các quá trình mua hàng chặt chẽ.
Quản lý nhà cung ứng Doanh nghiệp có thể giảm chi phí liên quan đến việc mua hàng và tăng lợi nhuận mà không phải tăng sản lượng bán hoặc giảm chất lượng của sản phẩm, thì quản trị mối quan hệ nhà cung ứng là một cách tiếp cận toàn diện để quản lý các tương tác của DN với các tổ chức cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà DN sử dụng. Quản trị mối quan hệ với nhà cung cấp được hiểu là tập hợp các phương pháp và ứng dụng cần thiết đối với việc tương tác với nhà cung ứng nguyên vật liệu nhằm mang lại lợi nhuận cho DN. Theo đó, DN xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với nhà cung ứng chiến lược đã được lựa chọn nhằm tìm ra những đặc điểm có thể tăng cường mối quan hệ trong khi vẫn đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở đôi bên cùng có lợi và cùng nhau tăng cường khả năng tạo ra nguồn lợi nhuận mới. Mục tiêu của phát triển mối quan hệ nhà cung cấp và DN là củng cố hợp tác, liên kết và tín nhiệm.
Hợp tác không chỉ có nghĩa là DN và nhà cung ứng cùng nhau lên lịch trình hoạt động của mình mà phải cùng nhau hoạch định vì lợi ích lâu dài và đôi bên cùng có lợi. Các DN đã liên kết những thông tin vô cùng quý giá, từ đó nhằm tăng cường mối quan hệ cộng tác giữa nhà cung ứng và nhà phân phối, đôi bên cùng nhau chia sẻ tin, kỹ năng để cùng có lợi. Quan hệ tốt với nhà cung cấp giúp DN quản lý tốt hơn dây chuyền cung cấp và các quy trình tự động, kết nối với toàn bộ hệ thống cung cấp.