CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN – SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tình hình phát triển và quản lý môi trường của các DNVVN trên địa bàn quận Gò Vấp Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của quận ước thực hiện năm 2011 đạt 14.797 tỷ đồng, tăng 11,68% so với năm 2010 (năm 2010 tăng 12,5%). Khu vực thương mại dịch vụ ước thực hiện 7.750 tỷ đồng, tăng 17,84%, chiếm tỷ trọng 52,37% trong cơ cấu kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng ước thực hiện 7.035 tỷ đồng, tăng 5,58%, chiếm 47,55% trong cơ cấu kinh tế; khu vực sản xuất nông nghiệp ước thực hiện 12 tỷ đồng, giảm 14,29% so với năm 2010 và chiếm 0,08% trong cơ cấu kinh tế. Số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tiếp tục tăng, ước thực hiện năm 2011 là 1.928 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký 4.817,38 tỷ đồng và 1.260 cơ sở cá thể với tổng số vốn đăng ký là 85,427 tỷ đồng.
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán ra thị trường xã hội năm 2011 ước thực hiện 68.500 tỷ đồng, tăng 19,61 % so với năm 2010, trong đó doanh thu bán lẻ là 43.000 tỷ đồng, tăng 20,6 % so với năm 2010. Kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện 285 triệu USD, tăng 9,62% so với năm 2010, với các mặt hàng chủ lực là dệt may, giày dép và sản phẩm gỗ. Kim ngạch nhập là 230 triệu USD, tăng 9,52% so với cùng kỳ. Sản xuất công nghiệp năm 2011 giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 4.850 tỷ đồng, tăng 6,41% so với năm 2010.
Trong đó, các loại hình doanh nghiệp ước thực hiện 4.037 tỷ, tăng 7,04%, thành phần cơ sở sản xuất nhỏ ước thực hiện 813 tỷ, tăng 3,39%. 19/20 ngành kinh tế kỹ thuật có giá trị sản xuất tăng so với cùng kỳ. Trong đó, ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống, dệt, thuộc và sơ chế da, sản xuất sản phẩm từ da và ngành sản xuất trang phục vẫn -2- tiếp tục giữ tốc độ tăng trưởng. Cụ thể, so với cùng kỳ, ngành sản xuất thực phẩm và đồ uống tăng 9,6%; ngành sản xuất giày tăng 7,9%; ngành sản xuất trang phục tăng 4,47%; ngành sản xuất giường, tủ, bàn, ghế và sản phẩm khác tăng 13,76%.
Trong năm 2011, sản xuất công nghiệp của quận tuy có tốc độ tăng trưởng nhưng nhìn chung do gặp nhiều khó khăn của việc suy giảm kinh tế, giá cả các loại nguyên nhiên vật liệu tăng cao vào các tháng đầu năm nên giá trị sản xuất công nghiệp đạt mức tăng thấp hơn so với những năm gần đây (Năm 2009 tăng 7,39%; năm 2010 tăng 8,21%). Cơ cấu các ngành kinh tế kỹ thuật chậm chuyển đổi, giá trị sản xuất của các ngành gia công và thâm dụng lao động vẫn chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất chung toàn ngành. Trên thực tế, công tác quản lý và bảo vệ môi trường, nhất là môi trường doanh nghiệp ở Việt Nam còn vướng phải rất nhiều trở ngại do những nguyên nhân khách quan và chủ quan như: - Công tác quy hoạch các ngành doanh nghiệp và chính sách phát triển của Nhà nước chưa thực sự phù hợp. Mặt khác, tốc độ phát triển doanh nghiệp quá nhanh sẽ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp được qui hoạch và xây dựng với quan điểm kinh tế thuần túy, bỏ qua các vấn đề tài nguyên môi trường.
- Bên cạnh đó, tiềm năng về dịch vụ môi trường và kinh phí dành cho công tác quản lý – bảo vệ môi trường vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao theo đà phát triển các doanh nghiệp. - Cuối cùng, trình độ quản lý môi trường chung hiện nay hoàn toàn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế từ công tác thanh tra, kiểm tra môi trường đến việc đào tạo, giáo dục và truyền thông môi trường. Ngoài ra, một trong những bất cập lớn nhất hiện nay đối với hệ thống quản lý môi trường các doanh nghiệp ở Việt Nam là chưa có qui chế bảo vệ môi trường doanh nghiệp, mà trong đó cần qui định rõ ràng sự phân cấp quản lý về bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp, thẩm quyền và nhiệm vụ của các -3- cơ quan chức năng liên quan trong lĩnh vực quản lý môi trường doanh nghiệp, nội dung cụ thể về bảo vệ môi trường đối với doanh nghiệp và những vấn đề liên quan khác. Chính do những tồn tại trên mặc dù với hệ thống quản lý môi trường doanh nghiệp đã được xây dựng và hoạt động vài năm qua, nhưng chất lượng môi trường các doanh nghiệp Việt Nam vẫn tiếp tục bị đe dọa và gánh chịu những ảnh hưởng nặng nề từ quá trình xây dựng và hoạt động của chính bản thân doanh nghiệp.
Vì vậy, nghiên cứu thiết lập một hệ thống quản lý với đầy đủ các thành phần chức năng, đồng thời xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa cấp quản lý Nhà nước và cấp quản lý cơ sở, nhất là nâng cao năng lực của bộ phận trực tiếp quản lý môi trường tại các doanh nghiệp và doanh nghiệp là hết sức quan trọng và cần thiết. Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường Việc thực hiện các hiệp định, công ước quốc tế về môi trường cũng như áp dụng hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về môi trường trong bối cảnh tự do hóa thương mại đã góp phần tích cực hạn chế ô nhiễm môi trường, khuyến khích sản xuất và trao đổi sản phẩm thân thiện với môi trường. Việt Nam đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Nhưng chúng ta cũng đã vấp phải những khó khăn nhất định, một trong những khó khăn là khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp phải áp dụng các tiêu chuẩn và chứng nhận cho doanh nghiệp cùng sản phẩm/dịch vụ của mình về chất lượng cũng như môi trường và một loạt các yêu cầu khác.
Đây là một điều bắt buộc và tất yếu, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ và thực hiện, trong khi phần lớn các doanh nghiệp nước ta là vừa và nhỏ, công nghệ sản xuất lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường cao. Trong đó việc đáp ứng những tiêu chuẩn thế giới như các bộ tiêu chuẩn ISO là rất cần thiết, đặc biệt là hiện nay, -4- một trong những đòi hỏi quan trọng là bộ tiêu chuẩn ISO 14000 – Tiêu chuẩn quản lý môi trường. Thực hiện quản lý môi trường tại doanh nghiệp sẽ dẫn dắt các doanh nghiệp đến với các hệ thống quản lý chất lượng thân thiện môi trường, nâng cao uy tín thương hiệu và đồng thời giải quyết được vấn đề ô mhiễm môi trường trong kinh doanh. Do đó, để có thể chuẩn bị cho sự hòa nhập quốc tế của các doanh nghiệp trong nước thì cần có sự chuẩn bị cho họ có sự hiểu biết về tầm quan trọng của việc quản lý môi trường trong quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó, Sản xuất sạch hơn ngày càng được chứng minh tính đúng đắn, hiệu quả và tầm quan trọng của nó trong quản lý môi trường, giải pháp này hoàn toàn có thể áp dụng thành công trong điều kiện của Việt Nam. Nó có khả năng làm giảm đáng kể ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng trong sản xuất công nghiệp. Việc áp dụng sản xuất sạch hơn vào sản xuất kinh doanh là con đường đảm bảo phát triển ổn định lâu dài của các doanh nghiệp hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Trong thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp đang trong giai đoạn đổi mới quản lý và công nghệ, chuẩn bị điều kiện hội nhập quốc tế, việc tiến hành đánh giá sản xuất sạch hơn sẽ cung cấp cho doanh nghiệp một căn cứ tin cậy để quyết định đầu tư đúng hướng và hiệu quả, đồng thời là cơ sở quan trọng để thực hiện ISO 9000 và ISO 14000.
Quản lý môi trường (QLMT) trong doanh nghiệp vừa là công cụ để bảo vệ môi trường vừa là phương tiện nâng cao hiệu quả kinh tế, thông qua các giải pháp kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu môi trường như các biện pháp sản xuất sạch hơn, tái chế, tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu, thay thế những nguyên liệu độc hại, sản xuất những sản phẩm xanh, dán nhãn môi trường,… Vì vậy nghiên cứu các giải pháp nâng cao nhận thức, kiến thức và công nghệ về quản lý môi trường ở cơ sở (doanh nghiệp) là thật sự cần thiết. Sự cần thiết của việc nâng cao năng lực QLMT của các doanh nghiệp -5- Chiến lược Bảo vệ môi trường Việt Nam 2001 – 2010 có đề cập đến vai trò của các doanh nghiệp và các cá nhân trong lãnh vực bảo vệ môi trường, trong đó các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tuân thủ quy định của Luật Môi trường và các quy định ngay từ hoạt động ban đầu của mình. Bảo vệ môi trường đã trở thành vấn đề cấp bách đối với thành phố Hồ Chí Minh nói chung và quận Gò Vấp nói riêng. Tuy vậy, từ lâu, giải quyết vấn đề ô nhiễm, phương pháp xử lý được nhiều người quan tâm nhất là “xử lý cuối đường ống”.
Hiện nay, phương pháp này đã bộc lộ nhiều hạn chế, vì nó chuyển từ trạng thái ô nhiễm dạng này sang dạng ô nhiễm khác, làm tăng chi phí sản xuất, là khoảng đầu tư lớn không sinh lời, không có thời gian hoàn vốn. Vì vậy, từ năm 1996, Tp. HCM đã chọn sản xuất sạch hơn là chiến lược hướng đến mục tiêu phát triển công nghiệp bền vững, cùng một lúc đạt được lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội. Một trong những xu hướng phát triển bền vững của quận Gò Vấp là làm cho các doanh nghiệp hiện hữu đang hoạt động sớm phát triển thành doanh nghiệp thân thiện môi trường.
Muốn vậy, cần phải có chương trình nâng cao năng lực quản lý, lựa chọn công nghệ xử lý môi trường tối ưu cho các doanh nghiệp trên địa bàn quận Gò Vấp. Từ những ý nghĩa thực tiễn của yêu cầu bảo vệ môi trường, tránh các tác động tiêu cực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với môi trường và sức khỏe người dân, vấn đề định hướng cho công tác quản lý bảo vệ môi trường và lựa chọn công nghệ xử lý môi trường ở cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp là rất cần thiết và cấp bách. Bên cạnh đó, vạch ra chương trình nâng cao nhận thức về quản lý môi trường cho các doanh nghiệp hiện nay là rất có ý nghĩa trong việc chuẩn bị cho các doanh nghiệp của quận Gò Vấp trong quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế.