Chương I: Tổng quan về ngân sách nhà nước và quản lý chi thường xuyên ngân sách địa phương. Chương II: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách địa phương tại Sở Tài chính tỉnh Tiền Giang Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách địa phương tỉnh Tiền Giang. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ QUẢN LÝ CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG 1. Tổng quan về ngân sách nhà nƣớc 1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nƣớc Thuật ngữ NSNN xuất hiện khi Nhà nước phát triển đến một giai đoạn nhất định mà ở đó có sự phân biệt giữa tài chính công và tài chính tư.
Như vậy, NSNN là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, phản ánh các quan hệ kinh tế, thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện tồn tại quan hệ hàng hóa - tiền tệ. Theo quan điểm của các nhà kinh tế cổ điển, NSNN là một văn kiện tài chính, trong đó mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ được thiết lập hàng năm. Theo Luật NSNN Việt Nam năm 2002, Luật NSNN năm 2015 cũng khẳng định: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Xét theo góc độ quản lý thì NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước hay bảng cân đối thu - chi chủ yếu của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm và được gọi là năm NS).
Tại hầu hết các nước trong đó có Việt Nam, năm NS trùng với năm dương lịch, bắt đầu từ 01/01 kết thúc vào 31/12. Về bản chất của NSNN, đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước. Đối tượng phân phối để tạo lập nguồn thu cho NSNN là giá trị của cải xã hội. Mục đích phân phối, sử dụng nguồn vốn NSNN là đáp ứng cho các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời gian cụ thể.
Vì vậy, nghiệp vụ chủ yếu của NSNN là thu - chi nhưng không đơn thuần là việc tăng giảm số lượng tiền tệ mà còn phản ánh quan hệ kinh tế - tài chính giữa Nhà nước với các tác nhân khác nhau của nền kinh tế trong quá trình phân bổ các nguồn lực và phân phối thu nhập mới được tạo ra.2 Chức năng của ngân sách nhà nƣớc NSNN có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối và chức năng giám đốc. Chức năng phân phối của NSNN bao gồm phân phối thu nhập và các yếu tố đầu vào của sản xuất, đặc biệt là các nguồn lực tài chính. Chức năng giám đốc thể hiện ở việc giám sát, đôn đốc, thanh tra, kiểm tra trong quá trình thu, chi NSNN. NSNN có tính niên hạn với niên độ hay năm tài khoá thường là một năm.
Ở nước ta hiện nay, năm NS bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch. NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Trong đó, Quốc hội là cơ quan cao nhất có quyền quyết định dự toán và phê chuẩn quyết toán NSNN.3 Cơ cấu chi ngân sách nhà nƣớc 1.1 Ngân sách Trung ương Ngân sách Trung ương (NSTW): Phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành kinh tế và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống NSNN. Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền TW được Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của cả nước.
NSTW cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước TW (sự nghiệp văn xã, sự nghiệp kinh tế, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đầu tư phát triển (ĐTPT)). NSTW còn là trung tâm điều hòa hoạt động NS của các địa phương (ĐP). Trên thực tế NSTW ở Việt Nam là NS của cả nước, tập trung đại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm bảo nhu cầu chi có tính huyết mạch của Nhà nước.2 Ngân sách địa phương Ngân sách địa phương (NSĐP) thực hiện cân đối các khoản thu và các khoản chi của Nhà nước tại ĐP, cùng NSTW thực hiện vai trò của NSNN, điều tiết kinh tế vĩ mô nền kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Ngân sách địa phương gồm: NS cấp tỉnh và thành phố trực thuộc TW (gọi chung là NS cấp tỉnh), NS cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là NS huyện), NS cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là NS xã).
8 + Ngân sách tỉnh: Phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ quản lý toàn diện kinh tế xã hội của chính quyền cấp Tỉnh nhằm khai thác các thế mạnh trên địa bàn tỉnh để tăng thu và thực hiện cân đối NS. + Ngân sách huyện: Là một bộ phận của NSĐP, thực hiện kế hoạch thu chi tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước cấp huyện. + Ngân sách xã: Nguồn thu của NS xã được khai thác trên địa bàn và nhiệm vụ chi cũng được bố trí phục vụ cho cộng đồng dân cư trong xã mà không qua một khâu trung gian nào. Ngân sách xã là cấp NS cơ sở trong hệ thống NSNN, đảm bảo tài chính cho chính quyền xã chủ động khai thác thế mạnh về đất đai, phát triển kinh tế xã hội và xây dựng nông thôn mới.
Nguồn: Lê Thị Thu Hiền (2017). Quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long. Đại học Cửu Long.4 Vai trò của ngân sách nhà nƣớc Trong nền kinh tế thị trường, vai trò NSNN là đảm bảo nguồn tài chính để thực hiện các chức năng nhà nước công quyền, duy trì sự tồn tại của hệ thống chính trị từ TW đến ĐP. NSNN là công cụ quan trọng để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, tạo đà tăng trưởng và ổn định nền kinh tế vĩ mô của đất nước, bù đắp những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường.2 Quản lý chi ngân sách địa phƣơng 1.1 Khái niệm quản lý chi ngân sách địa phƣơng Trong tất cả mọi lĩnh vực của hoạt động kinh tế xã hội nói chung, để đảm bảo hoạt động bình thường, đều phải có vai trò của con người tác động vào.
Những tác động mang tính chủ quan đó gọi là quản lý. Nói cách khác, quản lý thực chất là việc thiết lập và tổ chức thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp, tác động một cách có chủ định tới các đối tượng quan tâm nhằm đạt được kết quả nhất định. Quản lý chi NSĐP là một bộ phận trong công tác quản lý NSNN và cũng là một bộ phận trong công tác quản lý nói chung. Quản lý chi NSĐP là một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của Nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực NSNN nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước trong việc quản lý nhà nước, cung cấp hàng hóa công, phục vụ lợi ích KT-XH 9 cho cộng đồng.
Với khái niệm trên cho thấy: Xét theo nghĩa rộng, quản lý chi NSĐP là việc sử dụng NSĐP làm công cụ quản lý hệ thống xã hội thông qua các chức năng vốn có. Xét theo nghĩa hẹp, quản lý chi NSĐP là quản lý các đầu ra của NSNN thông qua các công cụ và quy định cụ thể. Xét về phương diện cấu trúc, quản lý chi NSĐP bao gồm hệ thống các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Nhà nước là người trực tiếp tổ chức, điều khiển quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN. Mục tiêu quản lý: Mục tiêu tổng quát: Thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững và ổn định.
Mục tiêu cụ thể: Quản lý chi NSĐP về bản chất là công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước, quản lý chi NSNN phải tuân theo cả ba mục tiêu chính sách kinh tế tổng thể. Bên cạnh những nhân tố khác, sự ổn định tài chính đòi hỏi hình thức kỷ luật tài chính; sự tăng trưởng kinh tế và tính công bằng, phần nào được tuân thủ thông qua việc phân bổ tiền công quỹ cho các ngành khác nhau; cả ba mục tiêu đều đòi hỏi việc sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực trên thực tế. Do đó cả ba mục tiêu của chính sách tổng thể chuyển sang ba mục tiêu chính của quản lý chi NSĐP hiệu quả: nguyên tắc tài khóa (kiểm soát chi tiêu), phân bổ nguồn lực phù hợp với các ưu đãi chính sách (phân bổ “chiến lược”); và quản lý hoạt động hiệu quả. Tiếp theo việc quản lý hoạt động hiệu quả đòi hỏi cả tính hiệu quả (tối thiểu chi phí trên mỗi đơn vị đầu ra) và tính hợp lý (đạt được hiệu quả như dự tính).
Việc tập trung vào quản lý chi NSĐP dựa trên mối liên hệ quan trọng giữa thu và chi. Bộ ba mục tiêu quản lý chi NSNN là (a) nguyên tắc tài khóa, (b) phân bổ và huy động nguồn lực, (c) hiệu quả hoạt động có thể dễ dàng được mở rộng thành bộ ba mục tiêu tài khóa. Trong đó: Nguyên tắc tài khóa thực hiện chức năng kiểm soát chi tiêu, nguyên tắc tài khóa cũng do những dự báo chính xác thu cũng như chi; Phân bổ và huy động nguồn lực thực hiện chức năng lập kế hoạch chi tiêu, việc phân bổ chiến lược giống như trong thời gian ưu đãi thuế trên các ngành khác nhau; và quản lý thuế rõ ràng là khía cạnh thu quản lý hoạt động chi tiêu hiệu quả. Do vậy, hiệu quả hoạt động 10 thể hiện qua chức năng quản lý chi tiêu.
Hiệu quả hoạt động được biết đến dựa trên các chỉ số về kinh tế, hiệu suất, hiệu quả và đúng quy trình. Trong thực tế, thứ nhất, ba mục tiêu có thể xung đột lẫn nhau trong ngắn hạn (và phải có được những cân đối và đối chiếu) nhưng rõ ràng những mục tiêu này bổ sung cho nhau trong dài hạn. Công cụ quản lý: Để thực hiện quản lý, Nhà nước cần phải sử dụng hệ thống các công cụ, trong đó bao gồm các yếu tố: Các chính sách kinh tế - tài chính, pháp chế kinh tế - tài chính, chương trình hóa các mục tiêu, dự án.