CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1.1 Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước. Khái niệm ngân sách nhà nước Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản tính toán thu, chi của Nhà nước luôn cân đối nhau trong một thời hạn nhất định trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước” [13]. Ngân sách Nhà nước là một văn kiện lập pháp hay một đạo luật chứa đựng hay có kèm theo một bản kê khai các khoản thu chi dữ liệu cho một thời gian nào đó, là một khuôn mẫu mà các cơ quan lập pháp, hành pháp cùng các cơ quan hành chính phụ thuộc phải tuân theo [7]. Ngân sách nhà nước bao gồm: thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước và cân đối ngân sách nhà nước; được xây dựng và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định và được thực hiện trong 01 năm ngân sách.
Thu ngân sách nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn như: thu từ khu vực ngoài quốc doanh: thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt…; thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ, phí, lệ phí, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thu tiền thuê mặt đất, mặt nước, thu tiền sử dụng đất, thu phạt, tịch thu…[13] Chi ngân sách nhà nước rất đa dạng bao gồm nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, liên quan trực tiếp, gián tiếp đến mọi người dân và chức năng quản lý của bộ máy nhà nước. Nhà nước chỉ được phép chi ngân sách nhà nước để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đã được xã hội giao phó. Chi ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách Nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, chi ngân sách Nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại 6 trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước [8].
Ngân sách nhà nước là bản dự toán (bản ghi) cân đối hàng năm về thu, chi cho các cơ quan chính quyền Nhà nước [18]. Cân đối NSNN có thể ở tình trạng cân bằng giữa thu và chi. Trong điều hành ngân sách, số cân đối theo nguyên tắc tổng số thu NS phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao để chi đầu tư phát triển; trường hợp còn bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư phát triển, tiến tới cân bằng thu, chi ngân sách; trường hợp bội thu ngân sách thì được sử dụng để trả nợ xây dựng cơ bản và các khoản chi sửa chữa khác [13]. Đặc điểm quản lý chi ngân sách nhà nước Thứ nhất, NS cấp huyện chịu sự chế định của Luật Ngân sách Nhà nước, hình thành, tồn tại và phát triển song song với hệ thống ngân sách Nhà nước, tuân thủ các hướng dẫn của các cơ quan cấp trên và là cấp ngân sách trung gian giữa ngân sách cấp tỉnh, thành phố và ngân sách cấp dưới, cùng các nhiệm vụ khác được uỷ quyền từ NSNN cấp Trung ương.
Thứ hai, Quản lý chi ngân sách cấp huyện phù hợp với yêu cầu hoạt động của bộ máy nhà nước cấp huyện. Về bản chất, chi ngân sách nhà nước là phương thức cung cấp tài chính nhằm đảm bảo cho các họat động thường xuyên của bộ máy nhà nướ nhằm hoàn thành các chức năng nhiệm vụ được giao theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 25/11/2019. Thứ ba, Quản lý chi NSNN cấp huyện phục vụ lợi ích của nhân dân địa phương: Các khoản chi NSĐP do các đơn vị, cá nhân cụ thể thực hiện nhưng mục đích của nó để cung cấp dịch vụ công, khuyến khích các hoạt động có lợi cho cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện. Khi sử dụng NSĐP không được lạm dụng NSNN để vụ lợi cho cho đơn vị, cá nhân trái với quy định của Nhà 7 nước, không được sử dụng lãng phí.
Cần phải công khai tài chính trên hệ thống thông tin điện tử của địa phương Thứ tư, Quản lý chi NSNN gắn với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH địa phương. Chi NSNN là một trong những công cụ để chính quyền cấp huyện chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH của huyện. Do đó dự toán NS cấp huyện phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH trên địa bàn huyện. Trong khung khổ quy định của cấp thành phố, các địa phương có nhiệm vụ lựa chọn các mục tiêu ưu tiên sử dụng NSNN sao cho hoàn thành tốt các khoản mục chi ổn định theo chế độ do Nhà nước quy định.
Thứ năm, Quản lý chi NSNN ít nhiều mang tính bị động do cơ quan thu NSNN. Theo quy định của Luật NSNN, việc quản lý chi NSNN mang tính tự chủ nhất định nhằm đảm bảo hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương. Song, quản lý chi NSNN cấp huyện cũng mang tính phụ thuộc thể hiện qua quy mô của NS cấp huyện lớn hay nhỏ phụ thuộc vào quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi; các chế độ chính sách do trung ương và thành phố ban hành; đối với các đơn vị có số thu thấp, nguồn thu không cân đối được nhiệm vụ chi thì được nhận bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách thành phố. Nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước.
Thứ nhất, nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ: việc sử dụng NSNN phải tuân thủ chế độ quản lý chung của Nhà nước. Tính thống nhất, tập trung còn thể hiện ở chế độ, chính sách, định hướng, chỉ đạo của cơ quan cấp trên mà chính quyền cơ quan cấp dưới phải tuân thủ. Đồng thời, do mỗi địa phương có tính đặc thù riêng lên nguồn thu và nhiệm vụ chi có thể khác nhau lên mỗi huyện có các khoản chi NSĐP phù hợp với điều kiện thực tế. Quản lý NSNN phải giao quyền tự chủ ở phạm vi nhất định để chính quyền cấp huyện dân chủ quyết định các nhiệm vụ chi phù hợp với nhu cầu của họ.
8 Thứ hai, nguyên tắc quản lý theo dự toán và đảm bảo mục tiêu ưu tiên: với điều kiện nguồn lực NSNN cấp huyện có hạn, nhiệm vụ phát triển KT-XH của huyện đặt ra vượt với khả năng cân đối của NS cấp huyện. Do đó, vấn đề quan trọng cần phải thực hiện trong quản lý chi NSNN là phải xác định được các mục tiêu ưu tiên. Phân bổ NS sao cho đảm bảo duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước cấp huyện, đồng thời để giành nguồn lực thực hiện các mục tiêu, kế hoạch phát triển KT-XH; xác định rõ những nhiệm vụ, lĩnh vực cần được ưu tiên để phân bổ NS cho phù hợp. Thứ ba, nguyên tắc cân đối ngân sách: NSNN được lập gồm thu và chi ngân sách phải được cân đối.
Nguyên tắc này các khoản chi được thực hiện khi có đủ các nguồn thu bù đắp. Vấn đề này, HĐND và UBND cấp huyện phải cân đối nguồn NSNN để đưa ra quyết định cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết, đồng thời khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nền kinh tế có khả năng đáp ứng. Thứ tư, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả: Tiết kiệm được hiểu là sự chi tiêu hợp lý, hợp lệ, đúng mục đích, đúng đối tượng, sáng tạo trong thực hiện để giảm chi phí, tạo ra tác động tích cực đối với quá trình phát triển KT-XH của huyện. Chi tiêu NSNN theo quy định của Nhà nước càng hợp lý bấy nhiêu thì càng tạo ra hiệu quả bấy nhiêu; ngược lại, chi tiêu không hợp lý sẽ tạo điều kiện tạo ra những tiêu cực như: lãng phí, thấy thoát, tham nhũng làm mất lòng tin của người dân vào chính quyền địa phương, gây ra bất ổn về kinh tế - chính trị - xã hội.
Như vậy để chi NS tiết kiệm, hiệu quả, quản lý chi NS phải đảm bảo xác định được đúng đối tượng chi, nhiệm vụ chi, thứ tự ưu tiên để phân bổ dự toán chi một cách hợp lý. Thứ năm, nguyên tắc hợp pháp, công khai, minh bạch: Chi NSNN phải được quản lý theo quy định của pháp luật đối với tất cả các khâu: lập dự toán, chấp hành dự toán, thanh quyết toán NS đến kiểm tra, xử lý vi phạm. Việc phân bổ dự toán chi NS (gồm chi ĐTPT và CTX) đều phải được tuân thủ theo 9 các quy định về tiêu chí, đối tượng, tiêu chuẩn định mức phân bổ hiện hành. Dự toán và quyết toán ngân sách được công khai trên cổng thông tin điện tử.
Thứ sáu, nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm: Khi là một cán bộ làm công tác quản lý tài chính, NS phải có trách nhiệm trả lời các câu hỏi về tính hiệp quả, hợp lý của các khoản chi NSNN; chịu trách nhiệm trước pháp luật về vấn đề sai phạm mà nhà quản lý tài chính gây ra. Bộ máy, nội dung, nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN cấp huyện 1. Bộ máy quản lý ngân sách cấp huyện Ngân sách cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý thống nhất của thành phố. Việc phân cấp quản lý nhiệm chi do Luật NSNN và các Nghị định của Chính phủ quy định.
Trong phạm vi phân chia nguồn thu và nhiệm vụ chi; thu và chi ngân sách được ổn định trong thời gian 3-5 năm. Sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý chi NSNN cấp huyện thể hiện ở sơ đồ 1. (trang 10) Sở Kế hoạch UBND Sở Tài chính và Đầu tư thành phố HĐND huyện UBND huyện Các đơn vị UBND xã, thị trấn Các đơn vị sự dự toán nghiệp công lập Sơ đồ 1.1: Cơ quan quản lý chi ngân sách nhà nước 10 * Nhiệm vụ quyền hạn của HĐND cấp huyện: Căn cứ vào nhiệm vụ thu, chi NS được cấp trên giao và tình hình thực tế tại địa phương, HĐND có quyền quyết định: - Dự toán chi NSNN, bao gồm NS cấp huyện và ngân sách cấp xã.