chương 1 Báo cáo quan hệ lao động năm 2017 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có nêu: “Theo nội dung quan hệ lao động có quan hệ việc làm, tiên lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, điều kiện lao động, bảo hiểm xã hội, kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất, quyển và nghĩa vụ của các bên, quan hệ trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động,. 4] Theo khoản 5 điều 3 bộ luật lao động 2019 của Việt Nam có nêu: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyên. Qua phân tích ở trên có thé thay quan hệ việc làm có liên quan trực tiếp tới QHLD, phát sinh từ QHLD và là một phần nội dung của QHLĐ. Như vậy, quan hệ việc làm là khách thé chung của QHNV và QHLD, điều chỉnh các nội dung về công việc phải làm, thời gian làm việc, điều kiện làm việc, tiền lương, tiền công, các chế độ liên quan xoay quanh việc thực hiện công việc.
Tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử khác nhau, cách tiếp cận khác nhau mà mối quan hệ việc làm này sẽ có những hình thái khác nhau và tên gọi khác nhau là QHLĐ, QHCN hay QHNV. Trong đó, QHLD phản ánh quan hệ việc làm ở góc độ việc làm, tiền lương theo góc độ pháp luật. QHNV cũng phản ánh quan hệ việc làm nhưng rộng hơn, day đủ hơn, chỉ tiết hơn khi dé cấp tới sự tin tưởng, sự gắn kết,. dưới góc độ kiến tạo sự hạnh phúc cho nhân viên.
Qua đó cho thay QHNV là hình thái phát triển cao nhất tính tới thời điểm hiện tại của mối quan hệ việc làm, thể hiện sự phát triển tới một mức nhất định về tương quan quyền và nghĩa vụ, quản lý và tuân thủ, cũng như mối quan hệ hợp tác - xung đột, sức mạnh và quyền lực giữa các chủ thể trong mối quan hệ việc làm. b) Quan hệ quan ly Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “quan lý” theo cách hiểu là một động từ thi “quản lý” gồm hai yếu tố. “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những 18 yêu cau nhất định. “Lý” là tổ chức và điều khiến các hoạt động theo yêu cầu nhất định.
“Quản lý” được hiểu là sự tác động liên tục có tô chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thé quản lý đến đối tượng quản ly dé chỉ huy, điều khiến, liên kết các yêu tố tham gia vào hoạt động nhằm đạt được mục tiêu. Trong đó, chủ thé quản lý là những người quan lý, đối tượng quản ly là nhân viên. Giữa hai chủ thé khác nhau luôn luôn phát sinh một hoặc nhiều mối quan hệ, trong đó, một trong số những quan hệ phát sinh giữa người quản lý và người nhân viên là quan hệ quan lý. Nó thể hiện thông qua các mặt về quyền lực, sự chỉ đạo, sự tuân thủ, quyền tự chủ giữa hai chủ thể.
Mối quan hệ này là quan hệ tất yếu nảy sinh khi có sự phân cấp, phân quyền trong tổ chức. Một bên là người sử dụng quyền lực dé điều khiển hành vi người khác, một bên là người thực hiện công việc từ sự điều khiến. Quá trình chủ thé quan lý thực hiện hoạt động quản lý chính là quá trình thé hiện quan điểm, phương thức và hành vi quản lý của người quản lý đối với nhân viên. Có thé hiểu, biểu hiện của quan hệ quản lý chính là phong cách lãnh đạo.
“Phong cách lãnh đạo là phương thức và cách tiếp cận của một nhà lãnh đạo dé dé ra các phương hướng, thực hiện các kế hoạch và tạo động lực cho nhân viên. Dưới góc nhìn của một nhân viên, phong cách đó thường được thể hiện qua các hành động hoặc rõ ràng hoặc ngâm y từ lãnh dao của ho.” [15] Dựa trên những tính cách và phương pháp nhà quản lý sử dụng mà nhiều phong cách lãnh đạo được tạo ra. Trong đó có thé ké đến ba phong cách lãnh dao cơ bản, trường tồn với thời gian là: - Phong cách tự do: Đặc điểm nổi bật của phong cách lãnh đạo này là người quản lý thường chỉ giao nhiệm vụ hoặc vạch ra kế hoạch chung, ít tham gia trực tiếp chỉ đạo công việc, luôn tin tưởng nhân viên, môi trường làm việc ít áp lực, mối quan hệ giữa người quản lý và nhân viên thường vui vẻ, thân thiện. - Phong cách chuyên quyền: Là phong cách lãnh đạo mà người quản lý nắm mọi quyền lực và ra quyết định dựa trên ý chí của cá nhân, nhân viên ít hoặc không được tham gia ý kiến và có trách nhiệm phục tùng mệnh lệnh.
Với 19 phong cách lãnh đạo này, thông tin thường là thông tin một chiều theo hướng từ trên xuống dưới, môi trường làm việc thường có áp lực, không khí làm việc đôi khi có sự căng thăng: mối quan hệ người người quản lý và người nhân viên là sự phục tùng. Phong cách dân chủ: Là phong cách lãnh đạo ở đó nhà quản lý phân chia quyền lực cho nhân viên dựa trên sự tin tưởng, nhân viên được tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến tuy nhiên người quyết định cuối cùng vẫn là người quản lý. Đây được coi là phong cách trung hoa của phong cách lãnh đạo tự do và lãnh đạo chuyên quyền. Hiện nay, ngoài ba phong cách lãnh đạo nôi tiêng trên còn có một sô các phong cách lãnh đạo mới như: Lãnh đạo phục vụ: Người lãnh đạo đặt vai trò từng nhân viên ngang với mình, hướng nhân viên suy nghĩ theo tư duy lãnh đạo từ đó khơi gợi tính trách nhiệm và động lực làm việc từ nhân viên.
Lãnh đạo chuyên đổi: Người lãnh đạo có tầm nhìn và truyền cảm hứng cho mọi nhân viên về tầm nhìn đó, để tất cả phát triển cùng nhau. Lãnh đạo giao dịch: Là kiểu phong cách lãnh đạo dựa trên cơ chế thưởng — phạt, làm tốt thì được thưởng, làm không tốt thì phạt. Lãnh đạo thuyết phục: Người lãnh đạo sở hữu tính cách thu hút, truyền cảm hứng thậm chí là năng lượng làm việc từ đó tạo động lực làm việc cho nhân viên. Các phong cách nói trên phản ánh sự đa dạng trong việc quản lý, dẫn dắt nhân viên.
Thông thường, mỗi người quản lý đều có một phong cách ưa thích. Tuy nhiên, dé có thé thích nghi và đưa ra những quyết định phù hợp với từng hoàn cảnh thì người quản lý luôn kết hợp nhiều phong cách lãnh đạo cho phù hợp. Nếu một nhà quản ly không thé dung hoa được những phong cách lãnh dao này sẽ dẫn tới các nhân viên không hài lòng với tác phong lãnh đạo, không tin tưởng vào cấp trên hoặc vẫn phục tùng nhưng không thoải mái, không phát huy được hết năng lực của mình. Một tổ chức dù có tầm nhìn, sứ mệnh hay chiến lược hay đến đâu nhưng đội ngũ 20 quản lý và nhân viên không thể triển khai được thì cũng giống như một kịch bản hay đặt vào dàn diễn viên lại tệ chỉ mang lại một bộ phim rời rạc và thiếu xuyên suốt.
c) Quan hệ dong nghiệp “Đồng nghiệp” trong tiếng anh được sử dụng phổ biến với cụm từ “Colleague” có nghĩa là người cộng sự hay những người làm việc cùng, đặc biệt là trong cùng một lĩnh vực chuyên môn. Theo từ điển tiếng việt, “đồng nghiệp” là người làm cùng nghề. Đồng nghiệp có thể cùng bộ phận hoặc khác bộ phận, có cùng trình độ hoặc khác trình độ. Quan hệ đồng nghiệp có thê hiểu theo nghĩa rộng là mối quan hệ giữa những người lao động cùng làm việc trong một tô chức.
Bản chất con người luôn muốn được giao tiếp, được kết bạn. Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu tự nhiên, thiết yếu hàng ngày giỗng như nhu cầu cần thức ăn, nước uống. Trong môi trường công sở, mỗi quan hệ đồng nghiệp là mối quan hệ được hình thành một cách tự nhiên và tất yếu. Quan hệ đồng nghiệp được thể hiện ở các mặt như: - Su tôn trọng lẫn nhau: Sự tôn trọng đến từ những hành vi nhỏ nhất, từ câu chảo hỏi, sự chúc mừng chân thành hoặc chỉ đơn giản là sự chăm chú lắng nghe khi đồng nghiệp đang nói, việc mình không thích thì không nên làm với đồng nghiệp.
Mỗi người đều là một cá thể riêng biệt và có sự khác biệt. Không xoi xét, không bàn tán về những điểm khác biệt và đời tư của đồng nghiệp cũng là biểu hiện của sự tôn trọng. - Su tin tưởng: Sự tin tưởng dau tiên bắt nguồn từ sự tín nhiệm lẫn nhau trong việc hoàn thành công việc. Mỗi người hoàn thành tốt khâu của mình tạo điều kiện thuận lợi cho người phụ trách khâu sau có thê dễ dàng hoàn thành công việc của mình đóng góp chung vào hoàn thành công việc chung.
- Su hợp tác, phối hợp trong công việc: Mỗi nhân viên được ví như một mắt xích trong chuỗi dây chuyền vận hành, hoặc mỗi người là một mảnh ghép trong một bức tranh. Nếu một mắt xích hay một mảnh ghép bị khuyết hoặc sai sót sẽ ảnh hưởng tới cả dây chuyền, làm hỏng cả bức tranh. Do vậy, sự 21 hợp tác, phối hợp trong công việc là điều kiện bắt buộc để dây chuyền vận hành liên tục. Bên cạnh đó, nguyên tắc không dé đồng nghiệp “đơn độc”sẽ tạo ra “sức mạnh bó đũa” giúp tập thê vượt qua những giai đoạn khó khăn.
- Su cảm thông, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trong công việc lẫn ngoài cuộc sống: Nếu chỉ dành thời gian xoay quanh công việc, mối quan hệ đồng nghiệp sẽ chưa thé bền chặt được. Sự quan tâm, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày bên ngoài công việc chính là chìa khoá giúp cho mỗi quan hệ đồng nghiệp ngày càng khang khít và bền chặt hơn. - Giao tiếp cởi mở: Cởi mở, bình dang và đảm bảo rằng mọi người đều có cơ hội chia sẻ ý kiến, ý tưởng, đặt câu hỏi hay đưa ra những phản hồi từ quan điểm cá nhân là yêu tố dé thấu hiểu lẫn nhau. Chỉ có giao tiếp thường xuyên, chia sẻ cởi mở và thăng thắn, chân thành những suy nghĩ của bản thân mới giúp quan hệ đồng nghiệp được bền vững.
Xây dựng mỗi quan hệ đồng nghiệp cởi mở, tin tưởng và bền chặt mang lại nhiều lợi ích cho mỗi CBNV cũng như đem lại lợi ích to lớn cho tô chức.