CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài.1 Vai trò của Mg đối với sinh trưởng năng suất và chất lượng chè. Magiê có vai trò rất quan trọng trong đời sống của thực vật: - Magiê là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, có vai trò quan trọng trong quang hợp, là hoạt chất của hệ enzyme gắn liền với sự chuyển hoá hydratcarbon và tổng hợp axit nucleic. - Magiê có vai trò thúc đẩy hấp thu và vận chuyển lân của cây.
Giúp đường vận chuyển dễ dàng trong cây. [19] Trong cây, Mg thường chiếm từ 0,10 – 0,30% MgO so với chất khô. Trong tro thực vật thường chứa ít nhất là 10% MgO, và có thể lên đến 30 – 40%. Vì vậy ở những vùng chè có tập quán sử dụng nhiều tàn dư hữu cơ, đặc biệt là bón kết hợp các phụ phẩm nông nghiệp thường không bị thiếu Mg.
Trong diệp lục tố có 4% MgO, giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và sự hình thành gluxit. Triệu chứng thiếu hụt magiê thường có biểu hiện sau: - Úa vàng ở phần thịt giữa các gân lá, chủ yếu ở lá già do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, gây nên vết sọc hoặc vết không liên tục. - Lá nhỏ, giòn ở thời kỳ cuối và mép lá cong lên. - Nhánh yếu và dễ bị nấm bệnh tấn công và thường bị rụng lá sớm.
Với cây chè, có nhiệm kỳ kinh tế dài, Mg cũng có vai trò hết sức quan trọng. Mg ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng chè. Đối với nhiều quá trình sinh hoá do men điều khiển, Mg cũng đóng một vai trò quan trọng. Việc hình thành ra Protein trong trường hợp thiếu Mg sẽ bị hạn chế và ngược lại, những hợp chất đạm không protit tăng lên.
Sự hình thành các sắc tố của lá trong trường hợp thiếu Mg cũng bị ảnh hưởng [16]. Chè là cây trồng ưa đất chua mà trong đất chua sự thiếu hụt Mg càng lớn. Để bổ sung sự thiếu hụt Mg vào đất, người ta thường bón MgO dưới dạng đôlômit chứa từ 20 - 35% MgO, hoặc bón phối hợp MgO với các lần bón phân khoáng trong năm. 6 Trong một số trường hợp có thể kết hợp bón phân đa lượng qua lá để bón bổ sung Mg.
Ở Việt Nam giống PH10 là giống có tiềm năng năng suất cao, được trồng nhiều ở vùng trung du miền núi phía Bắc. Nguyên liệu búp chè giống PH10 có chất lượng tốt, chế biến chè xanh có ngoại hình đẹp xoăn, xanh non, thoáng tuyết. Có hương thơm đặc trưng của giống, vị đậm dịu, có hậu. So với giống Kim Tuyên giống PH10 có hương thơm mạnh và vị đậm dịu hơn, các chỉ tiêu chất lượng ổn định qua các thời vụ, điểm thử nếm chè xanh đạt từ 17,36 - 17,72 điểm.
Có khả năng chế biến chè Ôlong chất lượng cao. Vai trò của axitamin (có trong đậu tương ngâm) đối với sinh trưởng năng suất và chất lượng chè. Chất hữu cơ giàu Protein có khả năng cung cấp lượng lớn axitamin cho cây chè là rất quan trọng. Cây trồng tạo ra khoảng 300 loại axít amin, nhưng chỉ 20 loại được dùng đến để sản xuất ra protein ( như cysteine, methionine, proline, leucine, histidine, arginine, threonine, lysine, serine, glycine, glutamine, glutamate, aspartic acid, asparagine, alaine, tryptophan, valine, phenylalanine).
Cây trồng có khả năng tự tổng hợp axít amin, nhưng các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng như N, P, K và các vi lượng khoáng chất không tạo ra được axít amin. Do vậy, nếu như có thể cung cấp trực tiếp các axít amin cho cây trồng sẽ hết sức tốt. Theo tác giả Trịnh Văn Loan (1996), nguồn cung cấp axít amin cho cây trồng có thể từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng chủ yếu từ quá trình thuỷ phân protein. Các chất giầu protein thường đi từ nguồn động vật và thực vật.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng Hàm lượng protein của đậu tương cao hơn cả thịt, cá và gần gấp đôi các loại đậu khác. Cùng một mẫu đất, số thu hoạch chất đạm đậu tương nhiều hơn 33 phần trăm với bất kỳ một thứ nông sản nào khác. Protein của đậu tương có giá trị cao không chỉ về sản lượng thu hoạch mà nó chứa đầy đủ tám loại amino acids thiết yếu (essential amino acids). Hàm lượng của các chất amino acids này tương đương với hàm lượng của các chất amino acids 7 của trứng gà, đặc biệt là của tryptophan rất cao, gần gấp rưỡi của trứng.
Vì thế mà khi nói đến giá trị của protein ở đậu tương cao là nói đến hàm lượng lớn của nó cả sự đầy đủ và cân đối của tám loại amino acids. Tuy nhiên để Protein của đậu tương dễ dàng thủy phân tạo ra axitamin thì trước khi bón cho cây trồng cần phải nghiền, ngâm trong nước đến khi đậu thối mất sức nảy mầm. Protein được phân huỷ thành axít amin bằng các phương pháp thuỷ phân khác nhau ví dụ như thuỷ phân bằng hoá học, bằng enzyme. Theo tác giả Trịnh Văn Loan (1996), ngâm đậu tương là một cách thủy phân đơn giản nhằm cung cấp nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho cây chè.
Cơ sở khoa học của kỹ thuật hái chè Hái chè là khâu đặc biệt quan trọng trong công nghệ chè, vì đó là mục tiêu của khâu trồng trọt và khởi điểm của khâu chế biến. Hái chè có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng, phát dục, sản lượng cây chè, phẩm cấp nguyên liệu búp chè, chất lượng chè thành phẩm và hiệu suất lao động hái chè, cho nên hái chè đúng kỹ thuật sẽ thu được nhiều búp tốt, để chế biến ra chè khô chất lượng cao với giá thành hợp lý, dễ được khách hàng ưa thích. Phản ứng của cây chè là tái sinh bằng các hiện tượng sinh trưởng. Muốn nắm được vấn đề này phải nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng của một cành bình thường không đốn, không hái, sau đó là một cành có đốn hái và cuối cùng là những thí nghiệm hái chè để xác định được các tỷ lệ lá có chất lượng khác nhau đã thu hái được.
Từ đó định ra phương pháp hái chè có lợi nhất cho nhà sản xuất Tiến trình mọc lá của ngọn chè không hái đốn (Theo kết quả nghiên cứu của Cohen Stuart) như sau: Cây chè sau khi đốn mọc lên những lá cá. Lá các không phải lá thông thường, có kích thước nhỏ hơn và không có răng cưa dìa lá. Tiếp theo là những lá chè bình thường rồi búp (tôm) chè. Búp chè không phát triển tiếp trở thành 8 búp mù xòe.
Những búp này ngủ nghỉ một thời gian rồi lại mọc lên lá cả, lá bình thường. Búp mù xòe ngủ nghỉ trong 1-2 tuần. Và cứ thế tiếp tục quanh năm, dưới tác dụng của nhiệt độ và ẩm độ. Trên cành chè có hái búp ( Theo kết quả nghiên cứu của Cohen Stuart) số lượng lá chè mọc lên, sau khi tái sinh, phụ thuộc vào cường độ sinh trưởng của cành chè và số lượng lá chè đã hái đi.
Sau khi hái chè xuất hiện 2 hiện tượng: - Chu kỳ sản xuất đều đặn của các cây chè có năng suất rộ sau 6 đến 8 ngày. - Giảm sút của trọng lượng búp chè theo quá trình hái trong thí nghiệm đã quan trắc được, trọng lượng búp 1 tôm + 3 lá hái lần đầu là 1,25g và lần cuối sau 15 tuần lễ là 0,89g. Điều này nói lên sự cần thiết phải đốn và hái chè Năm 1953, A. Guinard (dẫn theo ZieZ., 1991) Viết trong tài liệu “sản xuất chè ở Đông Dương” như sau: Hái chè là một cách đốn xanh liên tục, lấy đi phần đầu của ngọn (cành) chè, để kích thích mầm nách mọc ra ngọn chè mới.
Hái non chỉ gồm các lá non như tôm (búp) lá 1 và lá 2. Hái lá già là hái tôm (búp) + 4 đến 5 lá thật. Hái đau nhiều hay nhẹ là tùy số lá chừa lại trên ngọn (cành) chè ít hay nhiều. Hái chè ảnh hưởng đến sinh trưởng chất lượng và sản lượng chè.
Về sinh trưởng cây chè, sau khi hái búp, sinh trưởng ngọn chè bị gián đoạn, cây chè phản ứng bằng cách mọc ra những búp chè mới, bằng các chất dinh dưỡng dự trữ trong rễ, và nhựa tạo nên trong các lá trưởng thành. Cây chè bị hái lá liền bị suy yếu ngay, nhưng khi cành lá non mọc lên và phát triển sẽ tạo ra và cung cấp chất dinh dưỡng cho cây chè. Hái chè Đau sẽ làm kiệt cây chè, hái đi càng nhiều búp non, và để chừa lại càng ít lá trưởng thành thì càng đau. Wight (1948) còn quan trắc thấy đường kính cành chè giảm, mà số cành chè tăng lên.
Nếu chừa lại 2 lá (LC +2) cây chè ít bị các tác động như nói ở trên, nhưng tán chóng cao, nhất là đối với giống chè có lóng dài, nên phải đốn sớm, đốn nhiều, vì thế nên hạn chế áp dụng. Nếu số lá chừa như nhau thì hái non (Tôm + 2) làm kiệt sức cây chè hơn lá già (Tôm + 3 hay 4 tôm) vì lá chừa để lại non hơn, khả năng quang hợp kém hơn. Lá chè già có hàm lượng Tanin thấp, khó làm héo, khó vò, vị chè nhạt, nước kém và nhiều vụn nát. Hái già làm lá non và già trộn lẫn, phải phân loại riêng để chế biến nên tốn công, giá thành cao.
Thành phần cơ giới búp chè biến động theo chu kỳ đốn. Càng xa ngày đốn, búp chè càng nhỏ đi và sản lượng bị giảm (Tubbs, 1949).Tình hình nghiên cứu về bón phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho chè trên thế giới và ở Việt Nam. Tình hình nghiên cứu về phân trung lượng và nguồn dinh dưỡng giàu axitamin cho chè trên thế giới.F (1962) đã nghiên cứu việc sử dụng phân khoáng thường xuyên bón vào đất chè dẫn đến sự biến đổi hoá học của đất. Các chất dinh dưỡng được hoà tan mạnh hơn khi đất ẩm có mưa, nhất là những vùng á nhiệt đới và đới ẩm các chất khoáng của đất thường bị rửa trôi.
Sử dụng phân chua sinh lý ở điều kiện thâm canh cao làm thúc đẩy mạnh cường độ rửa trôi các Ion Bazơ trong đất, trong đó có Mg. Khi bón NPK với mức cao, độ chua của đất tăng cao, ngược lại hàm lượng bazơ lại giảm thấp: CaO 14,4 mg/100g đất, đặc biệt MgO chỉ còn 1,8 mg/100g đất. Trong khi đó đối chứng tương tự là CaO: 28,8. MgO: 5,8 mg/100g đất.De, 1983: Việc sử dụng lâu dài amôn sunphát và các loại phân chua sinh lý đã làm thay đổi đáng kể tính chất lý hoá học của đất.