CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới tăng trưởng năng suất lao động xã hội Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng trưởng NSLĐXH là chủ đề đặc biệt thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển. Các nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu tăng trưởng năng suất lao động của một nền kinh tế tăng lên như thế nào, điều đó không chỉ quan trọng trong việc xác định tăng trưởng năng suất có nguồn gốc từ đâu mà còn quan trọng trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự thay đổi năng suất. Trong nhiều thập kỷ qua, khi tìm hiểu về tăng trưởng NSLĐ của các quốc gia trên thế giới trong các giai đoạn khác nhau, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều đưa ra kết luận rằng: sự di chuyển nguồn lực từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao hơn là nhân tố chính dẫn tới tăng trưởng NSLĐ của nền kinh tế.
Một số nghiên cứu điển hình như: Schumpeter (1929) cho rằng việc di chuyển nguồn lực từ ngành này sang ngành khác có thể thúc đẩy tăng trưởng năng suất lao động nếu như nguồn lực sau khi phân bổ lại được sử dụng để tạo ra sản phẩm có năng suất cao hơn. Các kết quả nghiên cứu của Kuznets (1930) cho rằng chính sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng năng suất trong các phân ngành đã tạo nên quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành và toàn bộ nền kinh tế. Theo thời gian, một số ngành sẽ bị thu hẹp dần, đồng thời một số ngành khác sẽ được mở rộng. Chính sự tái phân bổ nguồn lực giữa các ngành sẽ tạo động lực cho tăng trưởng năng suất của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, do tác động tràn của dòng lao động dịch chuyển và quá trình tự học tập để đáp ứng nhu cầu công việc và nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp mà trình độ và kỹ năng của người lao động được cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao NSLĐ. Kuznets (1977) khẳng định rằng chuyển dịch cơ cấu và đổi mới công nghệ là động lực thúc đẩy tăng trưởng năng suất. Đồng quan điểm với Kuznets, Fabricant (1942) tập trung phân tích tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành tới tăng trưởng NSLĐ do sự di chuyển lao động giữa 12 các ngành kinh tế. Đồng thời ông lý giải rằng thay đổi công nghệ sẽ tạo hiệu ứng kép đối với vấn đề việc làm, tức là vừa làm tăng cầu về lao động ở ngành/lĩnh vực mới, vừa làm giảm cầu về lao động ở ngành/lĩnh vực cũ.
Vì vậy, sự di chuyển lao động được coi như là một tác nhân dẫn đến chuyển dịch cơ cấu ngành và làm thay đổi NSLĐ của ngành cũng như của tổng thể nền kinh tế. Mô hình hai khu vực của Lewis (1954) cũng cho thấy NSLĐ ở các nước kém phát triển tăng nhanh thông qua quá trình dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp. Ông đã lập luận rằng, ở những nước kém phát triển, nền kinh tế có hai khu vực kinh tế song song tồn tại: khu vực truyền thống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với đặc trưng là rất trì trệ, NSLĐ thấp và dư thừa lao động; khu vực công nghiệp hiện đại có đặc trưng NSLĐ cao và có khả năng tự tích lũy. Mô hình này đã lý giải quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành gắn với di chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp đồng thời với quá trình hình thành tài sản vốn của khu vực công nghiệp đã có ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng NSLĐ tổng thể.
Fei và Rainis (1964) đã chỉ ra hai khiếm khuyết cơ bản của mô hình Lewis, đó là: (i) quá trình chuyển dịch cơ cấu là có điểm dừng khi không còn lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp; (ii) Bỏ qua thị trường hàng hóa và phát triển chỉ số giá hàng hóa giữa các ngành. Nhằm khắc phục những hạn chế trên Fei và Rainis đã phát triển mô hình của Lewis thành ba giai đoạn khi nghiên cứu về quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển, bao gồm: (i) ban đầu có sự di chuyển lao động và chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng năng suất do dư thừa lao động trong khu vực công nghiệp; (ii) trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, thị trường hàng hóa thay đổi, giá nông sản tăng tương đối so với giá hàng công nghiệp, lao động nông nghiệp dư thừa cạn dần, khả năng duy trì mức chênh lệch về tiền lương ngày một khó khăn hơn, khu vực công nghiệp muốn tuyển thêm lao động thì phải tăng lương, do vậy phải giảm tích lũy, đầu tư, dẫn đến giảm năng suất; (iii) khi sự di chuyển lao động dư thừa sẽ dừng lại khi nào tiền công của lao động nông nghiệp tăng lên. Học thuyết của Lewis và Rainis – Fei đã giải thích một phần cơ chế chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp. Baumol (1967) cũng nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu ngành thông qua mô hình hai ngành.
Một ngành có công nghệ tiến bộ được giả định có tốc độ tăng NSLĐ không đổi và một ngành công nghệ lạc hậu có NSLĐ không thay đổi. Mô hình giả định rằng lao động là một yếu tố đầu vào duy nhất của quá trình sản xuất. Theo 13 ông ngành tiến bộ được coi là ngành công nghiệp, còn ngành lạc hậu được coi là ngành dịch vụ. Tuy nhiên, chính nghiên cứu của Baumol và cộng sự (1989) đã chỉ ra rằng, không phải tất cả các ngành dịch vụ đều lạc hậu, ví dụ như dịch vụ điện toán và truyền hình.
Các ngành dịch vụ tiến bộ này có tốc độ tăng NSLĐ tương tự như các ngành công nghiệp tiến bộ, thậm chí còn cao hơn. Những tồn tại trong nhận định của Baumol có thể xuất phát từ giả thiết về NSLĐ và giả thiết ngành lạc hậu chỉ sản xuất nhu cầu cuối cùng. Các kết luận không còn đúng khi trong thực tế các ngành này cung cấp đầu vào trung gian cho quá trình sản xuất. Kết quả nghiên cứu của Jan Fagerberg (2000) đã chỉ ra rằng, chuyển dịch cơ cấu tác động tới tăng trưởng năng suất theo cách khác so với trước đây.
Sự khác biệt cơ bản ở đây là vai trò của những công nghệ mới trong việc tạo ra sự thay đổi cơ cấu. Trong nửa đầu của thế kỷ XX, tăng trưởng sản lượng, năng suất và việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc làm trong các ngành dựa vào công nghệ mới (như điện tử và vật liệu tổng hợp) mở rộng nhanh chóng với mức lương cao hơn các ngành truyền thống, điều này chứng tỏ vai trò quan trọng của thay đổi cơ cấu đến tăng trưởng NSLĐ. Nửa sau thế kỷ XX, mối quan hệ giữa sản lượng, năng suất và việc làm trở nên mờ nhạt hơn.
Công nghệ mới (cách mạng điện tử) đã mở rộng năng suất rất nhanh, đặc biệt là trong ngành cơ điện tử nhưng không có sự gia tăng lớn tương tự trong phần chia của ngành trong tổng số việc làm. Thực tế các ngành có phần chia việc làm tăng đáng kể nhất là các ngành công nghiệp truyền thống (chủ yếu hướng tới tiêu dùng cá nhân) có tăng trưởng năng suất thấp. Do đó, công nghệ mới không liên kết sự thay đổi cấu trúc của cầu, sản lượng và việc làm giống như trước đây. Điều này giải thích tại sao thay đổi cơ cấu lại quan trọng đối với tăng trưởng năng suất trong nửa đầu thế kỷ XX hơn là nửa sau của thế kỷ này.
Anders Isaksson (2009) tiến hành so sánh đóng góp của chuyển dịch cơ cấu vào tăng trưởng năng suất tại các nước công nghiệp hóa; các nước có nền kinh tế chuyển đổi và các nước đang phát triển nhằm đưa ra bằng chứng về vai trò của chuyển dịch cơ cấu hay tái phân bổ các nguồn lực giữa các ngành đối với tăng trưởng năng suất tổng thể theo nhóm các quốc gia. Tác giả đã đưa ra một số kết luận và hàm ý về chính sách cho các nước đang phát triển như sau: (i) đóng góp do chuyển dịch cơ cấu vào tăng trưởng năng suất ở các giai đoạn phát triển khác nhau tại các nước đang phát triển và các nước công nghiệp hóa là rất khác nhau, do vậy các hàm ý chính sách đối với các nước cũng khác nhau; (ii) tái phân bổ các nguồn lực trong một ngành thường 14 dễ dàng hơn so với tái phân bổ nguồn lực giữa các ngành, bởi vì trong một ngành ít có khác biệt về công nghệ cũng như trình độ, kỹ năng của người lao động. Ví dụ, công nghệ trong ngành dệt khá gần với công nghệ ngành sản xuất trang phục, trong khi đó nó khác xa so với công nghệ sử dụng cho ngành sản xuất máy móc, do đó các hãng thường quyết định di chuyển nguồn lực bên trong ngành dệt may hơn là di chuyển sang các ngành khác. Dani Rodrik (2012) đã khẳng định rằng tăng trưởng NSLĐ của một nền kinh tế có thể đạt được theo hai cách: cách thứ nhất là gia tăng năng suất của các khu vực kinh tế thông qua tích lũy vốn, thay đổi công nghệ và nâng cao hiệu quả phân bổ; cách thứ hai là dịch chuyển lao động giữa các ngành, từ các ngành năng suất thấp sang các ngành có năng suất cao hơn.
Tổ chức Lao động quốc tế - ILO (2014) cũng đưa ra nhận định tương tự, đó là để tăng nhanh NSLĐ có hai con đường cho các quốc gia: Một là tăng hiệu quả của các ngành công nghiệp chính bằng cách áp dụng công nghệ mới, nâng cấp máy móc và đầu tư vào đào tạo kỹ năng và đào tạo nghề; Hai là chuyển dịch sang các hoạt động có giá trị gia tăng lớn hơn giúp năng suất lao động có thể tăng nhiều nhất. Theo cách thứ hai, hầu hết các nghiên cứu đều dựa vào các mô hình thay đổi cơ cấu trong dài hạn và các dữ liệu sẵn có theo ngành để cố gắng định lượng và so sánh tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành đến tăng trưởng năng suất ở các quốc gia, vùng lãnh thổ và các khu vực kinh tế. Ở Việt Nam, ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tới tăng trưởng năng suất lao động xã hội là chủ đề mới được nghiên cứu trong hơn một thập kỷ trở lại đây.