CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG 1. Năng suất lao động và nâng cao năng suất lao động 1. Năng suất lao động Trong quá trình phát triển nền văn minh nhân loại, con người luôn mong muốn và hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Chúng ta đã luôn tìm tòi, phát triển, nghiên cứu và đưa ra rất nhiều phát minh nhằm cải thiện cuộc sống và môi trường sống.
Con người luôn bị thôi thúc tạo ra nhiều của cải, vật chất phục vụ đời sống. Đồng thời tối ưu công sức, thời gian, nguồn lực và tài nguyên trong quá trình làm việc của mình. Một số phát minh được coi là bước nhẩy trong của nhân loại và cũng là yếu tổ thúc đẩy các cuộc cách mạng công nghiệp như: động cơ hơi nước, điện, máy tính điện tử. Nhân loại đã trải qua bốn cuộc cách mạng công công nghiệp trong lịch sử phát triền của mình.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất nhờ sự ra đời của động cơ hơi nước, cơ giới hoá sản xuất ở nửa cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19. Cuộc cách mạng này đã giúp sản xuất có những bước phát triển mạnh mẽ, năng suất lao động gia tăng đột biến tạo ra nhiều hàng hoá cho xã hội. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 bắt đầu từ những năm 1870 đến năm 1914, điện năng và các dây chuyền sản xuất hàng loạt được áp dụng vào sản xuất thì năng suất lao động đã tăng gấp nhiều lần khi sử dụng động cơ hơi nước. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba hay còn được gọi là “Các mạng kỹ thuật số” bắt đầu từ những năm 1950.
Với sự ra đời và áp dụng hệ thống máy tính, lưu trữ ký thuật số vào sản xuất, đời sống, giải trí của con người. Các hệ thống máy tính và các mạng kỹ thuật số mở ra kỷ nguyên tự động hoá trong sản xuất từ đây tạo ra bước nhẩy vọt về năng suất khi áp dụng tự động hoá vào sản xuất, kinh doanh. Nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tập trung vào thông minh hoá từ sản xuất, sản phẩm, chuỗi cung ứng, tiêu dùng, văn hoá, giải trí, sức khoẻ, y tế dựa trên các đột phá trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano. Cuộc các mạng công nghiệp lần thứ tư được kỳ vọng tối ưu hoá, thay đổi nền tảng, thúc đẩy các nền kinh tế truyền thống chuyển đổi sang kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo.
Mỗi cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử phát triển của nhân loại đều tạo ra những bước nhẩy vọt trong sản xuất, năng suất gia tăng đột biến. Năng suất và năng suất lao động gia tăng giúp tăng lượng của cải vật chất trong xã hội, đáp ứng tốt hơn đời sống của con người. Xuyên suốt trong quá trình phát triển của nhân loại, năng suất và năng suất lao động vừa là mục tiêu vừa là thước đo để đánh giá mức độ phát triển của 5 xã hội, nền kinh tế thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng. Để hiểu được nội hàm của năng suất và năng suất lao động, chúng ta cần xem xét tới định nghĩa của hai khái niệm này.
Theo Tổ chức lao động quốc tế ILO (2016), năng suất thể hiện lượng sản phẩm đầu ra trên một đơn vị đầu vào. Nói cách khác, nó đo lường mức độ hiệu quả của tất cả hoặc một số đầu vào của quá trình sản xuất. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (2001), với đầu vào là vốn thì ta có năng suất vốn là năng suất của một đơn vị vốn, được tính theo công thức 1. Nếu đầu vào được tính bằng nguyên liệu ta có năng suất nguyên liệu được tính theo công thức 1.
Nếu đầu vào là chi phí lao động thì ta có năng suất lao động được tính theo công thức 1. Nếu đầu vào là tất cả các yếu tố gồm vốn, nguồn lao động và nguyên vật liêu ta có năng suất nhân tố tổng hợp theo công thức 1. Nhìn rộng hơn, năng suất có thể được phân loại cụ thể hơn khi đo lường các khối lường đầu vào duy nhất như năng suất vốn, năng suất lao động, năng suất nguyên vật liệu hoặc năng suất đa yếu tố. Năng suất được coi là động lực then chốt của tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh.1) Vốn Sản lượng 𝑁ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑛𝑔𝑢𝑦ê𝑛 𝑣ậ𝑡 𝑙𝑖ệ𝑢 = (1.2) Nguyên vật liệu sử dụng Sản lượng 𝑁ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔 = (1.3) Lao động sử dụng Sản lượng 𝑁ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑡ổ𝑛𝑔 ℎợ𝑝 = (1.4) Vốn + nguyêt vật liệu +lao động Theo ILO (2016), năng suất lao động thường được định nghĩa là sản lượng sản phẩm được tạo ra trên một đơn vị lao động mà người lao động làm việc (hoặc trên mỗi giờ lao động).
Năng suất lao động thể hiện hiệu quả hiệu quả hoạt động của con người trong một đơn vị thời gian. Theo định nghĩa này, năng suất lao động được thể hiện qua công thức: Sản lượng 𝑁ă𝑛𝑔 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑙𝑎𝑜 độ𝑛𝑔 = (1.5) Số lượng đơn vị lao động Nguồn: theo định nghĩa của ILO Trên phương diện kinh tế vĩ mô, năng suất lao động đo lường tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thực tế được tạo ra trong một thời gian thông qua lao động. Khi đó số lượng đầu ra tại công thức (1.5) sẽ là tổng sản phẩm quốc nội GDP và có đơn vị là tiền tệ được quy đổi từ hàng hoá như: Đô la Mỹ, Đồng Việt Nam, Nhân dân tệ Trung Quốc. 6 Năng suất lao động trong doanh nghiệp phản ánh và đo lường hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp.
Năng suất lao động phản ánh khả năng và năng lực tạo ra sản phẩm, dịch vụ của mỗi người lao động và cả doanh nghiệp trong một thời gian nhất định. Qua năng suất lao động, doanh nghiệp cũng cho thấy được khả năng quản lý, điều hành, quản trị doanh nghiệp. Khác với năng suất lao động, cường độ lao động là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian. Cường độ lao động cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động.
Khi cường độ lao động tăng lên có nghĩa là mức hao phí sức cơ bắp, thần kinh của người lao động trong một đơn vị thời gian cũng tăng lên hoặc là mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động tăng lên tương ứng. Nếu cường độ lao động tăng lên thì cả số lượng hàng hóa sản xuất ra và hao phí sức lao động cũng tăng lên, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi. Năng suất lao động có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, kinh tế của mỗi quốc gia cũng như trên phạm vi toàn cầu. Năng suất lao động đo lường khả năng tạo ra giá trị từ các hoạt động lao động, sản xuất.
Đây là thước đo thể hiện mức độ hiệu quả của lao động trong việc sản xuất hàng hoá, dịch vụ từ đó ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Năng suất lao động cũng thường được sử dụng như một chỉ số đo lường nhằm so sánh và đánh giá sự phát triển kinh tế giữa các quốc gia, cũng như đánh giá hiệu suất của các tổ chức, ngành, khu vực trong nền kinh tế. Với ý nghĩa quan trọng của của mình, năng suất lao động cần được các tổ chức, doanh nghiệp, quốc gia tập trung nghiên cứu, cải thiện và thúc đẩy nhằm tạo ra những lợi thế cạnh tranh cho mình để đạt được những mục tiêu xa hơn về phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao năng suất lao động Từ định nghĩa về năng suất lao động, nâng cao năng suất lao động thực chất là tăng hiệu quả làm việc của con người trong một đơn vị thời gian hay ra tăng sức sản xuất.
Nâng cao năng suất lao động được hiểu là việc tác động vào cách thức lao động, tạo ra sự thay đổi nhằm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để tạo ra hàng hoá. Khi đó, lượng lao động bị tiêu hao ít hơn nhưng vẫn sản xuất được lượng hàng hoá bằng hoặc nhiều hơn trước. Nâng cao năng suất lao động chỉ tính tới hiệu quả của quá trình lao động và gia tăng sức sản suất trong khi các yêu tố khác không thay đổi như: đặc tính, tính chất, chất lượng, phẩm chất của sản phẩm. Chính vì vậy khi nâng cao năng suất lao động chỉ có ý 7 nghĩa khi không làm suy giảm các yếu tố khác của sản phẩm, dịch vụ.
Chất lượng và năng suất lao động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi một sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng cao, nó thường dẫn đến tăng năng suất lao động. Điều này là do các sản phẩm hoặc dịch vụ chất lượng cao thì ít có khả năng bị lỗi hoặc cần phải làm lại nên giảm nguy cơ làm chậm quá trình sản xuất và nâng cao hiệu quả lao động tổng thể. Mặt khác, năng suất lao động được cải thiện cũng có thể dẫn đến chất lượng cao hơn vì việc hợp lý hóa các quy trình và giảm lãng phí có thể mang lại sản phẩm hoặc dịch vụ tốt hơn.
Trong thực tế, các tổ chức cố gắng đạt được sự cân bằng giữa chất lượng và năng suất để đạt được hiệu suất tối ưu và sự hài lòng của khách hàng. Nâng cao năng suất lao động và tăng cường độ lao động là hoàn toàn khác nhau mặc dù đều làm tăng số lượng đầu ra. Khi cường độ lao động tăng có nghĩa chi phí đầu vào lao động cũng tăng lên tương ứng với số lượng đầu ra vì vậy mà năng suất lao động không tăng lên khi tăng cường độ lao động. Việc tăng cường độ lao động chủ yếu tác động vào các yếu tố sinh lý của người lao động làm chi phí lao động tăng lên.
Nâng cao năng suất lao động chủ yếu liên quan tới các cải tiến trong lao động, sản xuất như các yếu tố máy móc, công nghệ, quy trình, kỹ năng làm việc của người lao động… Mặt khác, các yếu tố sinh lý của con người là có giới hạn nên không thể tăng cường độ lao động để tạo nên được bước nhẩy vọt về sản lượng. Vì vậy, tăng cường độ lao động bị giới hạn bởi các yếu tố sinh ký của người lao động nhưng tăng năng suất lao động thì không chịu ảnh hưởng của giới hạn ấy.