CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT GẮN KẾT VỚI TỔ CHỨC Trong chương này, trình bày một số định nghĩa và thành phần của gắn kết với tổ chức và tìm hiểu một số mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến gắn kết với tổ chức. Giới thiệu về kết quả nghiên cứu của AON về gắn kết với tổ chức và lý do chọn mô hình này phù hợp với tổ chức. Sau đó lập bảng câu hỏi khảo sát cùng với thang đo về gắn kết với tổ chức.1 Định nghĩa và các thành phần của gắn kết với tổ chức 1.1 Định nghĩa gắn kết Có nhiều định nghĩa sự gắn kết với tổ chức, trong phần này tổng hợp một số định nghĩa cũng như khái niệm về gắn kết công việc từ đó trên cơ sở phân tích có hệ thống đưa ra một định nghĩa gắn kết công việc áp dụng phù hợp cho SFVN. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trình và kết quả làm việc của nhân viên chính là sự gắn kết với tổ chức (Mowday và cộng sự, 1982; Allen và Meyer, 1990; Hackett và cộng sự, 1994; Herscovitch và Meyer, 2002; Al Kahtani, 2004; Shaw và cộng sự, 2003).
"Đề cập tới khả năng mà một cá nhân sẽ gắn bó với công việc, và cảm thấy gắn chặt với nó cho dù công việc đó có thoã mãn hay không" (Rusbull & Farrell, 1983) Sự gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là một sự kiên định mạnh mẽ (nhất quán hay bất di bất dịch) của một cá nhân với tổ chức và sự tham gia tích cực trong một tổ chức cụ thể (Mowday và Steers, 1979). Sự gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là một sự kiên định mạnh mẽ (nhất quán hay bất di bất dịch) của một cá nhân với tổ chức và sự tham gia tích cực trong một tổ chức cụ thể (Mowday và Steers, 1979). 123doc 8 Gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là trạng thái tâm lý của thành viên trong tổ chức, phản ánh mức độ cá nhân hấp thu hay chấp nhận những đặc điểm của tố chức (O’Reilly và Chatman, 1986). Gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là sẵn lòng dành hết nỗ lực cho tổ chức, sự gắn bó chặt chẽ với tổ chức và tìm kiếm để duy trì mối quan hệ với tổ chức (Kalleberg và cộng sự, 1996).
Gắn kết với tổ chức được định nghĩa như là sự ràng buộc hay liên kết giữa các cá nhân và tổ chức (Mathieu và Zajac, 1990). Còn theo Meyer và Allen (1990) thì sự gắn kết là trạng thái tâm lý buộc chặt cá nhân với tổ chức. Theo AON Consultant (Commitment @Work của AON, 2002, 2002) thì sự gắn kết được hình thành bởi hiệu suất làm việc của nhân viên trong tổ chức, sự tự hào của nhân viên về tổ chức và ý muốn tiếp tục duy trì làm việc cùng tổ chức.2 Các thành phần của gắn kết với tổ chức Các lý thuyết khác nhau có các định nghĩa khác nhau và các thành phần đo lường cũng khác nhau: Angle và Perry, 1981 đã đề xuất 2 thành phần của sự gắn kết đó là: 1. Gắn kết và giá trị (Value commitment): sự gắn kết để phục vụ cho mục tiêu của tổ chức.
Gắn kết để duy trì (Commitment to stay): sự gắn kết để duy trì vai trò thành viên của họ trong tổ chức. Mowday, Porter và Steer, 1979: đã để xuất 3 thành phần của sự gắn kết: 1. Sự gắn bó hay nhất quán (Identification): có niềm tin mạnh mẽ và chấp nhận mục tiêu, giá trị của tổ chức. Lòng trung thành (Loyalty): mong muốn một cách mạnh mẽ duy trì vai trò thành viên của tổ chức.
Sự dấn thân (Involvement): dấn thân vào các hoạt động của tổ chức, và luôn cố gắng tự nguyện vì tổ chức. O’Reilly và Chatman, 1986: đề xuất 3 thành phần của gắn kết: 123doc 9 1. Sự phục tùng (Compliance): sự dấn thân vì những phần thưởng đặc biệt. Sự gắn bó (Indentification): sự gắn bó vì mong muốn hội nhập với tổ chức.
Sự chủ quan (Internalisation): Sự dấn thân do có sự phù hợp, sự tương đồng giữa giá trị của cá nhân và giá trị của tổ chức. Penley và Gould, 1988, đề xuất 3 thành phần của gắn kết: 1. Đạo đức (Moral): sự chấp nhận và đồng thuận theo mục tiêu của tổ chức. Tính toán (Calculation): sự đồng nhất với tổ chức vì nhân viên cảm thấy hài lòng với sự khích lệ vật chất khi có những đóng góp cho tổ chức.
Sự thờ ơ (Alienative): Nhân viên ở lại với tổ chức chỉ vì áp lực của môi trường, dù họ nhận thấy những gì họ nhận được không còn tương xứng với công sức. Meyer và Allen, 1991 đề xuất 3 thành phần gắn kết: 1. Sự gắn kết vì tình cảm (Affective): cảm xúc gắn bó, đồng nhất và dấn thân vào trong tổ chức. Sự gắn kết để duy trì (Continuence): nhân viên nhận thấy sẽ mất mát chi phí khi rời khỏi tổ chức.
Sự gắn kết vì đạo đức (Normative): Cảm giác có nghĩa vụ tiếp tục công việc. Meyer & Schoorman, 1992 đề xuất 2 thành phần: 1. Giá trị (Value) Niềm tin và sự chấp nhận các mục tiêu và giá trị của tổ chức và sự sẵn sang nỗ lực cho tổ chức. Sự gắn bó (Continuence): mong muốn duy trì vai trò thành viên của tổ chức.
Jaros và cộng sự, 1993 đề xuất 3 thành phần: 1. Tình cảm (Affective): mức độ mà một cá nhân gắn bó về mặt tâm lý với tổ chức thông qua những cảm giác như trung thành, cảm thấy yêu mến tổ chức, nhiệt tình vì tổ chức, hài lòng và cảm thấy mình thuộc về tổ chức. Sự duy trì (Continuence) mức độ mà cá nhân cảm thấy phải gắn bó với tổ chức vì họ cảm thấy mất mát quá nhiều thứ nếu rời bỏ tổ chức. Sự gắn kết vì đạo đức (Moral): mức độ mà cá nhân gắn bó về mặt tâm ý với tổ chức thông qua việc tiếp thu mục tiêu, giá trị và sứ mạng của tổ chức.
Gần đây có nghiên cứu về gắn kết với tổ chức (Work Commitment) của AON Consulting, 2002 đề xuất gắn kết có các thành phần: 1. Năng suất (Productivity): mức độ mà nhân viên tin là đồng nghiệp của mình cố gắng hoàn thiện bản thân và hy sinh bản thân để đạt thành công cho tổ chức. Sự tự hào (Pride): mức độ mà nhân viên giới thiệu tổ chức của mình là nơi làm việc tốt, tự hào giới thiệu sản phẩm và dịch vụ của công ty đến với mọi người. Sự duy trì - Lòng trung thành - tiếp tục gắn bó (Retain): mức độ mà nhân viên dự định ở lại công ty trong nhiều năm tới dù được đề nghị khác cho công việc tương tự với mức lương cao hơn một chút.
Để hệ thống các lý thuyết bằng cách tổng hợp so sánh đánh giá giữa các lý thuyết nhằm chọn mô hình như Bảng 1.1 Tổng kết sự gắn kết của nhân viên với tổ chức Meyer & Meyer & Jaros & cộng AON Allen Schoorman sự Consulting Xúc cảm (Năng X X X X suất) Sự kéo dài X X X X (Sự duy trì) Tính quy phạm X Giá trị X Đạo đức X X (Sự tự hào) Từ bảng trên có thể nhận thấy AON kế thừa đầy đủ các lý thuyết khác. Hơn thế nữa, AON Consultant đã tiến hành khảo sát gắn kết với tổ chức trên mức toàn cầu như ở các quốc gia như Úc, Canada, Mỹ, Anh. từ năm 2002 đến nay. Nghiên cứu của AON có đặc điểm đo lường các thành phần của gắn kết với tổ chức đồng thời 123doc 11 vận dụng các yếu tố ảnh hưởng đến gắn kết trong quản tri qua mô hình Tháp hành vi (được trình bày chi tiết trong phần Các yếu tố ảnh hưởng trên được sắp xếp từ thấp lên cao trong Tháp hành vi) dựa theo tháp nhu cầu của Maslow (là một nhà tâm lý học người Mỹ Abraham (Harold) Maslow (1 tháng 4 năm 1908 – 8 tháng 6 năm 1970), là tác giả của mô hình Tháp nhu cầu) như là phương thức hữu hiệu mô tả các mức độ khác nhau sẽ có ảnh hưởng đến mức gắn kết khác nhau.
Với tính thực tiễn cao và phù hợp trong định nghĩa và các yếu tố thành phần, đưa đến quyết định dùng mô hình và thang đo của AON Consultant để đo lường sự gắn kết với tổ chức của nhân viên với SFVN.2 Nghiên cứu của AON về gắn kết Từ năm 2002 cho đến nay Commitment @Work đã tiến hành nghiên cứu điều tra mức độ gắn kết kết trên nhiều quốc gia. Và vào năm 2002 AON khảo sát mức gắn kết với tổ chức trên của lực lượng lao động của Australia và xác định các yếu tố và các điều kiện để có thể dùng để gia tăng mức độ gắn kết trong tổ chức. Theo kết quả tóm tắt và hệ thống kết quả báo cáo Australia Commitment @Work của AON, 2002 của AON Consultant, 2002, nghiên cứu của AON nhằm giải đáp 4 câu hỏi: 1. Hiện các nhân viên đang gắn kết với công ty ra sao? 2.
Mức độ Niềm tin của nhân viên trong tổ chức hiện ra sao? 3. Nhân viên hiện đánh giá ra sao về các hoạt động của tổ chức, có đáp ứng được nhu cầu của họ đối với môi trường làm việc? 4. Làm thế nào để xây dựng được môi trường làm việc hiệu quả? Các câu trả lời thu thập và hệ thống để tạo ra hồ sơ gắn kết của từng nhân viên, mức độ tự tin, hiệu quả trong tổ chức và các yếu tố ảnh hưởng đến gắn kết. AON đưa ra Chỉ số gắn kết trong công việc (Work Commitment Index, WCI) và Chỉ số Niềm tin của nhân viên (Employee Confidence Index, ECI) và mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến gắn kết với tổ chức được biểu diễn trong Tháp hành vi (Performance Pyramid).1 Chỉ số gắn kết trong công việc (WCI) Theo AON, Nghiên cứu định nghĩa và xây dựng chỉ số thang đo gắn kết trong công việc (Workforce Commitment Index, WCI) như là chỉ số đầu tiên để đo lường gắn kết của nhân viên đối với tổ chức của họ.1 Australia @Work 2002 WCI, WCI có 100 mức và độ lệch chuẩn là 25.
Điểm cao hơn 100 biểu diễn mức gắn kết cao hơn. Điểm thấp hơn 100 cho thấy mức gắn kết thấp hơn yêu cầu. Đo lường WCI hàng năm cho phép các tổ chức theo dõi và lưu lại xu hướng thay đổi của gắn kết của nhân viên trong công việc đối với tổ chức mình.1 Australia @Work 2002 WCI Ít Gắn kết Nhiều 100 80 Mức đạt 100 120 Theo AON, cần lưu ý quan trọng rằng WCI đạt 100 không phải là mục tiêu cần phải đạt của tổ chức phải đạt mà chỉ là mức trung bình của Autralia hay là các tổ chức mà ta muốn cải thiện gắn kết.