CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trong lịch sử giáo dục đã xuất hiện nhiều tư tưởng lớn đề cao vai trò của tự học, những tư tưởng ấy đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục được phát huy trong nền giáo dục hiện đại. Ngay từ thời cổ đại, vấn đề phát huy tính tự học của người học đã được quan tâm.
Đối với vấn đề tự học và phát triển năng lực tự học, từ xa xưa đến nay đã có nhiều nhà Tâm lý học - Giáo dục học đề cập đến. Lịch sử Trung Hoa cổ đại đã xuất hiện các nhà giáo dục kiệt xuất, nổi bật là Khổng Tử (551- 479). Trong cuộc đời dạy học của mình, ông quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ, sáng tạo của HS. Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tìm ra chân lý.
Ông nói với học trò của mình: “Không giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho, một vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa”. Công trình “Học tập một cách thông minh” (Learning Intelligence) của Michael Shayer và Philip Adey, NXB viện Đại học mở Buckingham (2002) đã đưa ra nhiều biện pháp giúp học sinh học tập một cách thông minh. Theo các tác giả, nên chú trọng vào việc tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của học sinh từ đó đưa ra những gì mà học sinh cần giúp đỡ trong quá trình tự học. Bên cạnh đó còn phải quan tâm đến những giao tiếp của học sinh khi hoạt động nhóm, thông qua những ghi chép về các đoạn hội thoại của các em có thể kết luận được mức hiểu bài cũng như độ tập trung trong khi tự học.
Stronge với công trình “Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả”, NXB Giáo dục 2011, người dịch Lê Văn Canh đã nhấn mạnh đến việc giáo viên tạo lập một môi trường học tập hiệu quả cho học sinh, trong đó có việc khuyến khích và phát triển năng lực học đáp ứng những nhu cầu cá nhân của các nhóm học sinh chuyên biệt trong lớp học. Ông chú trọng việc hỗ trợ các hoạt động tích cực của học sinh thông qua thủ thuật đặt câu hỏi và thảo luận. Linh, 2015) Hiện nay quan điểm giáo dục định hướng phát triển năng lực người học ngày càng được quan tâm nghiên cứu áp dụng. Trong đó năng lực tự học của HS là năng lực cốt lõi cần được hình thành và phát triển.
Vì vậy năng lực tự học là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục. Tình hình nghiên cứu trong nước Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu. Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất. Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông Đồ tài giỏi dạy dỗ thì yếu tố quyết định đều là tự học.
Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài (H. Tâm, 1998) Đến thời kỳ Thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới. Vấn để tự học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội. Vấn để tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp học tập.
Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bị và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị (N. Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tào, Bùi Tường đã khẳng định: “Năng lực tự học của học trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học. Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học. Nói cách khác quả trình tự học, tự nghiên cứu, cả nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của các bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học” Bước vào thời kỳ đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung và vấn đề tự học của HS nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu.
Ở nước ta, từ năm 2002 bắt đầu triển khai chương trình và SGK phổ thông mới, mà trọng tâm là đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Dần chuyển đổi từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm năng lực tự học Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản: Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể (M.
Đặng Vũ Hoạt và PGS. Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học. Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định (T.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học – là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp.) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chỉ tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, biến khó khăn thành thuận lợi.) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tự học. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu giáo dục định nghĩa về tự học của tác giả Malcolm Shepherd Knowles được sử dụng phổ biến hơn cả.
Trong nghiên cứu của mình chúng tôi cũng phân tích năng lực tự học dựa trên định nghĩa này: “Tự học là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự toán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, con người giúp ích được cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện”. Vai trò của năng lực tự học Theo lí thuyết hoạt động thì tâm lí con người chỉ được hình thành, phát triển và bộc lộ trong quá trình học tập của cá nhân, có nghĩa là HS phải trực tiếp tham gia vào hoạt động học tập. Vì vậy, tự học có ý nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp đến sự phát triển tâm lí và nhân cách của HS. Tự học có ý nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp sự phát triển nhân cách cho người học.
Các nhà tâm lý học cho rằng bản chất của sự hình thành và phát triển tâm lý con người là quá trình tiếp thu và lĩnh hội hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà loài người đã phát hiện, tích lũy và tồn tại dưới dạng hệ thống hóa tri thức khoa học. Theo lý thuyết hoạt động thì tâm lý con người chỉ được hình thành, phát triển và bộc lộ trong quá trình học tập của cá nhân, có nghĩa là khi người học trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động. Tự học là một phương pháp hữu ích mà người học có thể sử dụng để nâng cao trải nghiệm học tập cho dù đang ở trong một khóa học hay chỉ là tìm hiểu một chủ đề vui. Việc áp dụng phương pháp tự học có thể giúp người học đi xa hơn những kiến thức có ở 6 trong sách giáo khoa hay sự truyền đạt của thầy cô.
Bằng cách tự học, học sinh được khuyến khích khám phá thêm các chủ đề khác mà họ quan tâm cũng như phát triển các kỹ năng nghiên cứu. Nhờ hoạt động tự học mà HS có thể hình thành được những năng lực cơ bản để có thể “học tập suốt đời”, đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội. Tự học giúp học sinh có thể kiểm soát được việc học tập của bản thân, từ đó càng trở nên thích học hơn. Cùng với hình thức học tập truyền thống, tự học giúp người học tận dụng tối đa kinh nghiệm học tập, lưu giữ thông tin tốt hơn, giúp tăng cường sự hiểu biết, điểm số và động lực trong học tập.
Sự học trong nhà trường là cần thiết, nhưng để hoàn thiện bản thân, con người cần học tập suốt cuộc đời. Cấu trúc của năng lực nói chung và năng lực tự học nói riêng. Cấu trúc của năng lực nói chung Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định được thành phần và cấu trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau do đó việc mô tả cấu trúc và thành phần của các năng lực cũng khác nhau.
Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể (N. (i) Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung - chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động. (ii) Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn.