Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới liên quan tới đề tài 1.1 Những vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Nghiên cứu về vấn đề đặt câu hỏi (CH) trong dạy học không còn là một vấn đề mới trên thế giới. Bởi ngay từ những năm trước công nguyên, người ta đã nghiên cứu bản chất của CH, tầm quan trọng của CH và đặc biệt trong hành động nhận thức của con người nói chung và trong dạy học nói riêng. Khổng Tử (551 – 479 TCN) cho rằng khi dạy học là đưa người học vào tình huống mâu thuẫn, tức là đặt ra cho họ những câu hỏi bẫy để kích thích cho người học.
Dạy học bằng sử dụng CH, BT được các nước phương Tây như Pháp, Mĩ quan tâm từ rất sớm. Đã có nhiều tài liệu được biên soạn nói về lý luận dạy học theo hướng khuyến khích sử dụng CH, BT để rèn luyện tính chủ động và sáng tạo ở HS. Vào những năm 70 của thế kỉ XX, ở Pháp đã xuất hiện nhiều tài liệu lý luận dạy học theo hướng khuyến khích, tăng cường sử dụng CH, BT để rèn luyện tính tích cực, chủ động của HS ở các cấp học. Các tác giả của các tài liệu lý luận dạy học này quan niệm xem CH, BT vừa là mục tiêu, nội dung, vừa là phương pháp, biện pháp dạy học có hiệu quả.
Ivan Hannel là tác giả cuốn sách “Phương pháp đặt câu hỏi hiệu quả trong dạy học”, ông là người nghiên cứu tới vấn đề “Sử dụng câu hỏi hiệu quả cao trong dạy học”. Ông đã đưa ra một lý luận gần như hoàn chỉnh về cách đặt CH hiệu quả cao trong dạy học. Ông khẳng định: “Đặt câu hỏi hiệu quả là cách thức giúp học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập”. Ông còn đưa ra đầy đủ tác dụng, các quy tắc và các bước đặt CH hiệu quả trong dạy học.
Ở Liên xô (cũ), đã có nhiều tài liệu của các tác giả đề cập đến mục đích, nội dung, phương pháp thiết kế và sử dụng cũng như vai trò, giá trị của CH, BT trong dạy học như: Socolovskia (1971), Abramova, P.B Gopman, Kadosnhicov, Laixeva, 6 O. Trong các tài liệu đó, các tác giả chủ yếu tập trung biên soạn các CH dựa vào nội dung của từng chương, từng mục của SGK, chứ chưa đi sâu vào cơ sở lý luận của CH.2 Những vấn đề nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài Trong gần 30 năm qua, cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta đã có những đổi mới quan trọng và phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, nội dung và phương pháp đào tạo. Một trong những vấn đề được quan tâm và thu hút nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, các thầy giáo, cô giáo, đó là vấn đề đổi mới PPDH trong nhà trường ở tất cả các môn học và các cấp học. Việc nghiên cứu về sử dụng CH, BT cũng được quan tâm một cách đặc biệt trong các khâu của quá trình dạy học, đặc biệt là trong khâu kiểm tra đánh giá nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong bộ môn Sinh học, từ những năm 70 trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu và tài liệu bồi dưỡng về lĩnh vực rèn luyện kỹ năng dạy – học, xây dựng và sử dụng CH, BT trong dạy học môn Sinh học ở trường phổ thông. Chẳng hạn như: Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành, Đinh Quang Báo, Vũ Đức Lưu, Lê Đình Trung, Lê Thanh Oai … và còn nhiều các công trình của các tác giả khác. Chẳng hạn như: Trần Kiều (1995) “Đổi mới đánh giá – đòi hỏi bức thiết của đổi mới PPDH”, Dương Đức Niệm (2006), “Vai trò của KT, ĐG theo phương pháp TNKQ trong dạy học” … Có thể nói, đây là những công trình nghiên cứu có hệ thống từ cơ sở lý luận đến việc đề xuất các nguyên tắc, quy trình thiết kế và sử dụng CH trong dạy học để từ đó giúp GV có thể định hướng về phương pháp và kĩ năng thiết kế CH trong dạy học các môn học nói chung và môn SH nói riêng [5], [6], [15], [17], [22], [25], [26], [27]. Trước sự thay đổi không ngừng của nền kinh tế - xã hội nước ta, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội tốt nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với nền giáo dục nước nhà trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển hiện tại và tương lai của đất nước.
Việc đào tạo ra thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước có đủ “đức, trí, lao, thể, mỹ”; tích cực, chủ động, sáng 7 tạo là yêu cầu cấp thiết đang được đặt ra hiện nay, chính điều này đã thúc đẩy sự đổi mới mạnh mẽ trong chương trình giáo dục hiện nay. Để thực hiện tốt công tác đổi mới giáo dục Đảng và Nhà nước, Bộ GD & ĐT đã đưa ra nhiều nghị quyết, chủ trương như: - Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ – TTg ngày 13/ 6/ 2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"; "Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục với kết quả thi" [36]. - Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04/ 11/ 2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “… chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” [10]. - Sự đổi mới phương pháp dạy và học theo định hướng mới đã dần được thực hiện, cụ thể ngày 09/ 9/ 2014 vừa qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố phương án chính thức cho kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2015.
Về mặt kỹ thuật, việc xây dựng bài thi cũng có nhiều đổi mới. Theo thông tin chính thức từ Cục Khảo thí, đề thi năm 2015 sẽ tiếp tục hướng đi đã được bắt đầu từ kỳ thi năm 2014 là chú trọng đánh giá năng lực người học, tăng các câu hỏi ở các mức độ nhận thức cao hơn là chỉ nhận biết kiến thức, tăng các câu hỏi mở để đánh giá khả năng vận dụng và sáng tạo [34].2 Những vấn đề chung về câu hỏi và năng lực 1.1 Khái niệm câu hỏi CH là một “chương trình hành động” được vạch ra nhằm định hướng kiến thức cho HS tự giải quyết. Căn cứ vào những yêu cầu của bài học, GV đưa ra những CH phù hợp cho học sinh tự học, qua việc giải quyết CH, HS hoàn thiện được bài học, chương trình học của mình một cách chủ động, tự lực. 8 CH trong dạy học có vai trò cực kỳ quan trọng: tạo môi trường giao tiếp; tạo môi trường học tập; là công cụ khai thác kiến thức, phát triển tư duy của người học; CH là công cụ để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS.
Trong triết học Hi Lạp cổ đại, người ta đã bắt đầu nghiên cứu về bản chất của CH bằng những câu hỏi đặt ra như: “Câu hỏi là gì?”, “Câu hỏi có vai trò quan trọng như thế nào trong hoạt động nhận thức của con người ?”. Arixtole (384 – 322 TCN) là người đầu tiên đã biết phân tích CH dưới góc độ logic và lúc đó ông cho rằng đặc trưng cơ bản của CH là là buộc người hỏi phải lựa chọn các giải pháp có tính trái ngược nhau. Do đó, con người có phản ứng lựa chọn hoặc cách hiểu này, hoặc cách hiểu khác. Ông cho rằng: “Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng cả cái đã biết và cái chưa biết”.
Còn nhà triết học, nhà khoa học Descaetes (1596 – 1650) thì quan niệm rằng không có CH thì không có tư duy cá nhân, cũng như tư duy nhân loại. Ông cũng nhấn mạnh dấu hiệu, bản chất của CH phải có quan hệ giữa cái đã biết và cái chưa biết. Phải có tỉ lệ phù hợp giữa hai đại lượng đó thì chủ thể nhận thức mới xác định được phương hướng mình phải làm gì để trả lời CH đó. Khi chủ thể nhận thức đã xác định được cái gì mình biết và cái gì mình chưa biết thì lúc ấy mới đặt được CH và khi đó CH thực sự mới trở thành sản phẩm của quá trình nhận thức.
Tóm lại, CH là một dạng cấu trúc ngôn ngữ diễn đạt một yêu cầu mà người học cần phải giải quyết, trong đó bao hàm cả cái đã biết và cái chưa biết. Ba yếu tố cần có của một CH là: - Mỗi CH cần chứa đựng điều chưa biết. - Điều chưa biết đó phải được người hỏi ý thức được để có định hướng nghiên cứu. - CH phải chứa đựng nội dung đã biết, trong đó có tỉ lệ phù hợp giữa cái chưa biết và cái đã biết của chủ thể là vô cùng cần thiết.
Vì nếu chủ thể chưa biết cái gì, hay biết quá ít, hoặc quá nhiều, biết tất cả đều không có phản ứng trả lời. Lúc dó cái ta gọi là CH sẽ không phải là CH nữa nghĩa là CH không có giá trị về mặt nhận thức. 9 CH là một hiện tượng khách quan đối với người học, nó được vật chất hóa dưới dạng ngôn ngữ viết hoặc lời nói và nó chỉ trở thành hiện tượng chủ quan khi học sinh tiếp nhận tiếp nhận và ý thức nó như một vấn đề cần phải giải quyết. Có thể thấy rằng CH vừa là điểm xuất phát, vừa là sản phẩm của hoạt động nhận thức chủ quan của chủ thể nhận thức.
Do đó, CH là sản phẩm trung gian quyết định đến sự lĩnh hội tri thức mới về một sự vật, hiện tượng nào đó của chủ thể nhận thức. Có thể diễn đạt một định nghĩa khác về CH như sau: “Câu hỏi là một sản phẩm trung gian quan trọng quyết định chủ thể nhận thức lĩnh hội được hiểu biết về một sự vật, hiện tượng nào đó”.2 Khái niệm năng lực Khái niệm năng lực có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ. Theo tiếng năng Anh, “competence” có nghĩa là lực hay khả năng, hoặc còn có nghĩa là thẩm quyền.