Chương 1: Cơ sở lí luâ ̣n và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Xây dựng và sử dụng CH cốt lõi trong dạy học các chủ đề: Cơ chế DT; Biến dị và Các quy luật DT – Sinh học 12 - THPT. Chương 3: Thực nghiê ̣m sư pha ̣m. 7 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài : Từ những năm trước công nguyên, các nhà tư tưởng Trung Quốc như Khổng Tử, Mạnh Tử đã có những tư tưởng mới lạ, táo bạo và rất thực tế: Khổng Tử (551 – 479 trước CN) đã quan tâm đến sự kích thích tư duy của HS. [9]; Còn Mạnh Tử (372 – 287 trước CN) đòi hỏi người học “phải tự suy nghĩ chứ không nên nhắm mắt làm theo sách”[9] Tiếp đó, trong giai đoạn thế kỉ 17 - 18 tại các nước Châu Âu, các nhà giáo dục nổi tiếng như nhà Sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc thế kỉ XVII J.Conmensky (1592 – 1679) đã đưa ra các biện pháp DH khiến HS phải tìm tòi suy nghĩ để nắm được bản chất sự vật hiện tượng. Ông nói “Tôi thường bồi dưỡng cho HS của tôi tinh thần đôc lập trong quan sát, đàm thoại và trong việc ứng dụng vào thực tiễn.
[9] Trong cuốn “Lịch sử ngầm của giáo dục Mỹ ” tác giả TS. John Taylor đã phân tích rõ quan điểm DH xưa và nay của nền giáo dục Mỹ. Ông cho rằng quan điểm giáo dục cổ điển thực tế đã tạo ra những HS thiếu năng động và linh hoạt trong cuộc sống, thiếu kỹ năng cần thiết trong cuộc sống hiện đại. Sự tách rời giữa những thành tựu mới đang được sử dụng trong xã hội với những tri thức HS được trang bị trong nhà trường đã dẫn tới việc xã hội phải mất thêm thời gian đào tạo lại người lao động trong các cơ sở sản xuất.
Tại Nhật bản, Hội đồng quốc gia cải cách giáo dục đã đề ra 3 yêu cầu cấp thiết của cải cách giáo dục hướng tới thể kỉ XXI là (1) Thực hiện chuyển sang hệ thống giáo dục suốt đời; (2) Chú trọng hơn nữa vai trò quan trọng của tính cách mỗi con người; (3) Làm cho giáo dục phù hợp với những thay đổi của thời đại [Vietnam. net] Vấn đề nghiên cứu các biện pháp giáo dục để tăng cường các hoạt động chủ động, tích cực, tự lực, sáng tạo của HS đã sớm được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Đã có nhiều tác giả đề cập đến vai trò, phương pháp xây dựng, sử dụng CH trong dạy học phổ thông: Socolovskaia, Abramova, Kadosnhicov, Laixeva, 8 z O. Hệ thống các CH, BT mà các tác giả này thiết kế để trở thành những công cụ góp phần cải tiến phương pháp dạy học phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS trong các trường học Xô Viết [19].
Tuy nhiên các tác giả đó chủ yếu soạn câu hỏi dựa vào từng phần, từng chương, mục theo SGK chứ chưa đi sâu vào cơ sở lí luận của việc thiết kế và sử dụng CH một cách cụ thể Ở Pháp, cũng trong những năm 70 của thế kỷ XX, trong các tài liệu lý luận dạy học có chú ý khuyến khích dùng CH, bài tập để rèn luyện tính tích cực, chủ động của HS từ bậc tiểu học đến trung học. Họ quan niệm CH, bài tập vừa là phương pháp, vừa là nội dung, vừa là biện pháp dạy học cụ thể. Đồng thời, trong chừng mực nào đó nó còn được coi là mục tiêu của việc dạy học. Do đó, CH, bài tập cần được thiết kế và sử dụng hợp lý [13] 1.
Ở Việt Nam: Từ năm 1960, vấn đề tích cực hóa hoạt động học tập của HS đã được đặt ra. Khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” đã đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó. Trong các tài liệu lý luận dạy học đã phê phán nhược điểm của phương pháp thuyết trình, giảng giải và đề cập đến các phương pháp tiến bộ như: Hỏi đáp tìm tòi, dạy học nêu vấn đề, phương pháp nghiên cứu, nhưng còn nặng về nghiên cứu lý thuyết. Sau đó từ những năm 1970 trở đi, các nghiên cứu về các biện pháp tổ chức HS hoạt động tự lực mới được quan tâm và nghiên cứu đồng bộ cả lý thuy ết và thực hành.
Trong đó, nổi bật là các công trình nghiên cứu “Cải tiến phương pháp dạy và học nhằm phát huy trí thông minh của HS” [24] Tháng 1/1979 trong nghị quyết của bộ chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ “Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học của HS. Hướng dẫn họ biết cách nghiên cứu SGK, sách báo khoa học, thao luận chuyên đề, tập làm thực nghiệm khoa học” Trong bài phát biểu tại hội nghị lần thứ tư ban chấp hành TW Đảng khoá VII (1/1993) Tổng bí thư Đỗ Mười đã nói: “Hướng bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người là không ngừng gia tăng tính tự giác, năng động, tự chủ, phát huy sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân, kết hợp với sức mạnh của cả cộng đồng xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc của chế độ mới” Chiến lược phát triển của Đảng tiếp tục khẳng định rằng trên cơ sở nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc, trong thời gian hiện nay 9 z đến 2020 phải đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa phải có những bước tuần tự những cũng phải có những bước nhảy vọt. Trong thời kỳ công nghi ệp hoá hiện đại đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế , việc nghiên cứu các biện pháp tổ chức HS hoạt động tích cực đã được triển khai mạnh mẽ, nhiều công trình nghiên cứu, bài báo, tài liệu đã được công bố và xuất bản.
Điển hình là các công trình của các tác giả Trần Bá Hoành (2007), Nguyễn Kì (1994), Trần Bá Hoành (1993) Đinh Quang Báo (1981) …. [19] Trong SH nói chung và bộ môn Di truyền học nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu về bài tập SH 11, 12 và ngày càng có nhiều công trình như công trình của các tác giả Trần Bá Hoành (1970), Nguyễn Đức Thành (1986), Lê Đình Trung (1994), Vũ Đức Lưu (1995), Lê Thanh Oai (2004),…Những tác giả này đề xuất những phương pháp dạy học tích cực trong quá trình DH SH để đưa ra các CH, BT, BT tình huống, công tác độc lập nghiên cứu sách giáo khoa của HS và đã đưa lại những kết quả góp phần nâng cao hiệu quả dạy HS học trong trường phổ thông như: + Giáo trình lý luận dạy học sinh học (DHSH) đại cương ở trường phổ thông - Trần Bá Hoành - (1972, 1975, 1979) - Nxb Giáo dục, Hà Nội. Nxb Giáo dục, Hà Nội. + Lý luận DHSH - Đinh Quang Báo (Chủ biên), Nguyễn Đức Thành (1998).
Nxb Giáo dục, Hà Nội. + DHSH ở trường THPT (2002) – Nguyễn Đức Thành (Chủ biên), Nguyễn Văn Duệ - Nxb Giáo dục, Hà Nội. + Đặc biệt, luận án tiến sỹ của tác giả Lê Thanh Oai (2003): “Sử dụng CH - BT để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong dạy - học STH lớp 11 - THPT”. Đây là công trình nghiên cứu có tính hệ thống từ cơ sở lý luận đến việc đề 10 z xuất các nguyên tắc và xác lập một quy trình thiết kế và sử dụng CH - BT; để từ đó giúp GV có những định hướng về phương pháp và kĩ năng thiết kế CH - BT như một phương pháp để tổ chức, hướng dẫn HS tự lực phát hiện kiến thức mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học STH.
Luận án tiến sỹ của tác giả Lê Thanh Oai (2003): “Sử dụng CH - BT để tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong dạy - học STH lớp 11 - THPT”. + Luận án tiến sỹ của tác giả Dương Tiến Sỹ (1999): “Giáo dục môi trường qua dạy học STH lớp 11- THPT”. Tác giả đã kết hợp được những nghiên cứu lý thuyết cơ bản với nghiên cứu khoa học giáo dục để xây dựng một hướng nhìn nhận mới về quá trình dạy học STH, trong đó tiếp cận cấu trúc - hệ thống là phương pháp luận cho việc phân tích nội dung, xác định các phương pháp tích hợp giáo dục MT qua dạy học STH không chỉ ở mức khái quát toàn bộ chương chình, mà còn được thể hiện ở việc tổ chức cho từng bài học, từng khái niệm cụ thể theo hướng phát huy cao độ tính tích cực chủ động của người học, từ đó cho phép tích hợp hữu cơ giữa quá trình dạy - học STH với giáo dục MT; trong đó tác giả xây dựng và sử dụng hệ thống CH tìm tòi theo cách tiếp cận cấu trúc - hệ thống. Hệ thống CH này đã tỏ ra có hiệu quả khi tổ chức HS nghiên cứu các nội dung STH tích hợp với giáo dục MT ở trường THPT.
+ Luận văn thạc sỹ của tác giả Phan Thị Bích Ngân (2003): “Tổ chức hoạt động học tập tự lực trong dạy học STH 11- THPT”. Luận văn đề cập tới những biện pháp tổ chức học sinh hoạt động học tập tự lực nhằm nâng cao chất lượng dạy học STH ở trường THPT, góp phần đổi mới phương pháp dạy học sinh học hiện nay, trong đó có biện pháp sử dụng CH phát huy tính tích cực, tự lực của HS. Sau khi phân loại CH căn cứ vào mức độ tư duy, tác giả đã chỉ ra các bước tiến hành tổ chức sử dụng CH phát huy tính tích cực, tự học của HS trong dạy học STH. + Luận văn thạc sỹ của tác giả Đỗ Thị Hà (2002): “Sử dụng tiếp cận hệ thống hình thành các khái niệm STH trong chương trình STH 11- CCGD” đã đề xuất cách phân tích nội dung STH theo logic cấu trúc hệ thống, từ đó thiết kế mẫu vận dụng tiếp cận cấu trúc - hệ thống hình thành các khái niệm STH.
Ứng với việc dạy mỗi khái niệm, tác giả đã thành công trong việc đưa ra các tình huống dạy học 11 z điển hình, để từ đó bằng hệ thống CH vấn đáp gợi mở, GV tổ chức hoạt động nhận thức cho HS theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học.