CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VE DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH B - LEARNING VỚI SỰ HO TRỢ CUA MOODLE NHAM BOI DUONG NANG LỰC TỰ CHỦ TỰ HỌC CUA HS. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu của đề tài 1. Cac nghiên cứu về dạy học theo B - learning 1. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới Thuật ngữ dạy học kết hợp (B - learning) đã xuất hiện trên thé giới vào cuối THE KI XX.
Tuy nhiên chỉ từ năm 2006 đến nay, B - learning mới được phát triển mạnh mẽ, việc dạy học theo B - learning được sử dụng rộng rãi trong các môi trường GD trên thé giới.) Nhiều trường DH trên thé giới có đưa B - learning vào hoạt động và đạt hiệu rat cao như: ĐH Queensland của Uc, ĐH Cyber của Thái Lan, DH MIT của Mỹ, DH EUK của Anh. Nhiều trường kinh doanh quốc tế cũng cung cấp khóa học B - learning vào chương trình học của họ, dẫn đầu là chương trình quản trị kinh doanh của Babson - Mỹ (Business Graduate Programs Designed to Optimize Your Potential, n.) với 50% trực tiếp, 30% thao luận trực tuyến và 20% nội dung trong DVD trên bài giảng và thuyết trình, chương trình quản trị kinh doanh classroom Plus của DH George Mason-Mỹ. (MBA Program, 2022) với 50% trực tiếp và 50% trực tuyến. Diều này cho thấy việc dạy học theo B - learning có mức độ uy tín rất cao khi có các trường DH nỗi tiếng trên tiếng sử dung và đạt hiệu quả cao.
Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, các nhà khoa học mới chỉ quan tâm đến các nghiên cứu về E - learning thông qua một số hội thảo khoa học, các nghiên cứu như: Hội thảo khoa học “Nghién cứu và triển khai E - learning (khoa CNTT DH Bách khoa Hà Nội) và viện CNTT (ĐH Quốc Gia) phối hợp tô chức” (Hạnh & Hòa, 2020), nghiên cứu “E - learning và ứng dụng dạy học” của tác giả Lê Huy Hoang va Lê Xuân Quang (Lê Câm Tú, 2021),.Trung tâm tin học Bộ GD - ĐT cũng đã trién khai công E - learning (http://E learning. Từ đó, nhiều trường cũng triển khai hệ thong E - learning như: DH Sư phạm Thanh phố Hồ Chí Minh (https:⁄hcmue.vn/v⁄), DH Khoa học Tự nhiên Thành phó Hỗ Chí Minh (www.vn), DH Can Thơ (www. Bên cạnh do, cũng có một số trang web triển khai các lớp học trực tuyến như: www. Cac nghiên cứu về NL tự chủ và tự học Ngay từ thời xưa, nhiều nhà GD cũng đã nhận thay va chỉ ra tam quan trọng của việc tự học, cụ thê là: 1.
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới Trên thé giới. day học phát triển NL đã được quan tâm va chú trọng nghiên cứu từ rất lâu. Người đặt cơ sở lí luận cho đạy học phát triển NL là William E. Ông đã cho ra đời cuốn sô tay phát triển chương trình đào tao NL vao năm 1982 bàn luận về các nội dung cơ bản của GD dựa trên NL, dua ra xu hướng xây đựng, phát triển NL ở người học (Đạt, 2022).
Socrate đã từng tuyên bồ rằng: “GD phải giúp con người tự khang định chính minh”, ông cũng là người đề xuất một phương pháp mà đến hiện nay vẫn còn được sử dụng trong GD, đó là phương pháp day học: Hỏi — Dap (Thăng & Am, 1998). Trong những năm gan đây, người ta vẫn không ngừng quan tâm nghiên cứu vẻ tự học. Cu thé: - Chủ dé nghiên cứu mang tên: “7 hoe trong mắt những nhà GD” tại Malaysia vào năm 2007(Nasri, 2019), Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra: + Vai trò của nhà GD là tiên phong trong trong việc tự học. + Cách dé các nhà giáo trao quyền và nghĩa vị cho sinh viên về việc tự học của chúng.
- Nghiên cứu của tác giả Nattaphon Rampai về “Phát triển mô hình quản lý kiến thức qua truyền thông xã hội nhằm nâng cao kỹ năng tự học cho sinh viên tốt nghiệp”. Nghiên cứu này khám phá mô hình quản lý tri thức và công nghệ truyền thông xã hội cho sinh viên tốt nghiệp cũng như kỹ năng tự học của sinh viên tốt nghiệp (Bảo, 2019). Như vậy, các nước trên thé giới đã có rất nhiều nghiên cứu đa dạng về nội dung, phương pháp về van dé tự chủ và tự học và kha năng tự học. Điều nay đã tác động đến những nghiên cứu ve tự học cũng như kha năng tự học tại Việt Nam.
Đây là những nguồn tải liệu tham khảo tin cậy cho những nghiên cứu trong nước. đồng thời cũng là thách thức đối với những nhà nghiên cứu tại Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, tư tưởng, quan điểm nhân mạnh việc tự học và NL tự học là yếu t6 quan trọng dé phát triển chất lượng GD - DT: Chủ tịch Hỗ Chi Minh cho rằng: “ Trong cách học phải lấy tự học làm cốt”. Người cũng nhân mạnh rằng: “Phái nâng cao và hướng dan việc tự hoe” khi nói về công tác huấn luyện vả học tập.
Người cũng khuyên rằng: “Không phải có thay thì học, thay không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập "(Thủy, 2017). Ông Đỗ Mười - cô van ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhân mạnh rằng: “Tu học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đời của moi người ", Điều này giúp nâng cao chất lượng và hiệu qua GD khi biến quá trình GD thanh quá trình tự GD(Xguyên Tong Bi Thư Đỗ Mười và Những Dau An Lớn Suốt Đời vì Dân, 2018). Van dé tự học, nang cao NL tự học cho HS đã được dat nên tảng vững chắc về quan điêm chỉ đạo trong thời kì chuyên mình của GD — DT nhằm thích ứng với giai đoạn phát triển đất nước.
Tại Việt Nam, vấn đề tự học cũng đã được quan tâm, dạy học phát trién NL tự học ở Việt Nam cũng không phải là một khái niệm xa lạ. Diều này thẻ hiện qua những cuôn sách va nghiên cứu như sau: - Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền năm 2013 vẻ đẻ tài: “Thye trạng ky năng tự học ngoải lớp của sinh viên chính quy sư phạm Trường DH Su phạm thành pho Hỗ Chí Minh”. Nghiên cứu tập trung vào năm kỹ năng: lập kế hoạch tự học, đọc sách, ghi chéo, ôn tập và tự kiểm tra đánh giá. Từ đó, đưa ra một số biện pháp dé nâng cao kỹ năng tự học ngoài lớp học cho sinh viên của trường(Huyền et al.
- Nam 2018, nhóm tác giả Lê Thị Bạch Liên, Phạm Thi Sen Giang dựa trên cơ sở lí luận của day học phát triển PC và NL, đề xuất 4 biện pháp cốt lõi để phát triển NL tự học ở HS bao gồm: Tô chức lam việc nhóm với thảo luận trong giờ học, tích cực hóa hoạt động học tập, hướng dan HS cách xây dung ké hoach hoc tap, hướng dan HS cách tự đọc tài liệu tham khảo (Lê Thị Bạch & Pham Thị Sen, 2018). Như vay, có thé thấy van dé tự học đã thu hút sự quan tâm của nhiều nghiên cứu trong nước. Đây là một dấu hiệu khả quan cho nền GD tại Việt Nam. Và đây cũng la những nguồn tài liệu tham khảo rất giá trị dé những thé hệ đi sau kế thừa và phát triển.
Dạy học kết hợp - B - learning 1. Khai niệm dạy học kết hợp Thuật ngữ B - learning được sử dụng lan đầu bởi Friesen, ông cho rằng thuật ngữ này có thê có nghĩa là “gan như bắt kỳ sự kết hợp nào của công nghệ. sư phạm và thậm chí cả nhiệm vụ công việc”. Ông định nghĩa B - learning đơn giản là việc day học trực tuyến hoàn toàn hoặc chỉ là dạy học một phan kiến thức nao đó hoặc chỉ đạy học truyền thông đẻ HS tiếp cận với lý thuyết.
(Cronje, 2020) Theo Chew, Jones và Tuner thì việc day học két hợp của hai lĩnh vực là GD va công nghệ.(Chew et al., 2008) Khái niệm học tập kết hợp theo Singh: là sự tô hợp của các phương tiện CNTT và các phương tiện học tập truyền thông nhằm cá nhân hóa việc học vào những khoảng thời gian phù hợp dé đạt được hiệu quả học tập cao nhất (Graham et al. Tuy nhiên, các hiểu biết này chưa có sự thông nhất với nhau. Sau đó, các nhà GD bắt đầu có chung quan điểm về B - learning. Graham và Woodfield đưa ra định nghĩa rằng: “B - learning được hiểu là mô hình học tap két hợp mà việc học tap trên lớp và học tập trực tuyển được tiến hành trong sự kết hợp và bổ trợ cho nhau ”(Bonk & Graham, 2012) Theo Michael B.
Horn va Heather Staker định nghĩa: “Day học kết hợp la một chương trình GD chính quy mà ở đó HS học một phan trực tuyến, có sự kiểm soát về thời gian, địa điểm, lộ trình và tién độ. Có ít nhất một phan dạy trên lớp, các hình thức học tập của từng HS phải được liên kết với nhau tạo sự thống nhất. Cách thức học tập khoa học, môn học của HS được kết nổi đề cung cap trai nghiém hoc tdp tích hợp”(Horn & Staker, 2017). Như vay, các cách dién giải trên đều chi ra một điểm chung: Day học kết hợp có thể hiểu khái quát là sự kết hợp giữa day học điện tử (E - learning) và dạy học giáp mặt (F2F) nhằm phát huy tối đa ưu điểm của các hình thức học tập này.
Dac điểm của dạy học kết hợp B - learning là hình thức tô chức hết sức linh hoạt, dựa trên những ưu điểm của GD truyền thống và GD thông qua internet thay vì sử dụng một cách riêng lẻ hai hình thức đó. Theo tác giá Nguyễn Hoàng Trang, hầu hết các kiểu đạy học trong mô hình B - learning đều có các đặc diém chung (Nguyễn Hoàng, 2018): - Hình thức học tập: mô hình dạy học B — learning luôn có sự pha trộn giữa dạy học trực tiếp và trực tuyến với mức độ kết hợp khác nhau. - Môi trường học đa dang, linh hoạt: mô hình này tạo ra một lớp học không giới hạn về không gian, người học có thẻ học ở bat cứ nơi đâu tùy theo thời gian, điều kiện của bản thân. - Nguồn tài liệu phong phú, đa dạng: người học có thé tiếp cận với nhiều nguồn tài liệu khác nhau chi cần một thiết bị có kết nỗi internet.
10 - Cải tiền sư phạm: do thực tế thì hau hết việc dạy và học hau như chỉ tập trung vảo việc truyền đạt hơn là tương tác. GD từ xa lại tạo ra một lượng lớn thông tin có sẵn giúp HS chủ động tiếp thu kiến thức.