Chương 1 trình bày tổng quan về các nguyên tắc giám sát ngân hàng hiệu quả, hoạt động giám sát của ngân hàng trung ương đối với ngân hàng thương mại, kinh nghiệm thế giới và các bài học cho Việt Nam.1 Giới thiệu Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel 1.1 Sự ra đời và nguyên tắc hoạt động của Ủy ban Basel1 Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel (Ủy ban Basel) là Ủy ban bao gồm các cơ quan giám sát ngân hàng được thành lập bởi thống đốc ngân hàng trung ương (NHTW) nhóm 10 nước (G10) vào năm 1975. Hiện nay, thành viên của Ủy ban này gồm các quốc gia: Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, Hong Kong SAR, Ấn Độ, Indonesia, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, Nga, Singapore, Nam Phi, Nhật, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ. Ủy ban thường nhóm họp tại Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở thành phố Basel, Thụy Sỹ một năm 4 lần2. Ủy ban Basel không có bất kỳ cơ quan giám sát nào và những kết luận của Ủy ban không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngân hàng.
Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất với kỳ vọng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng một cách phù hợp nhất cho hệ thống tài chính quốc gia mình. Bằng cách này, Ủy ban khuyến khích việc áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào kỹ thuật giám sát của các nước thành viên. 1 Tham khảo trang web Bank for International Settlements, truy cập tại địa chỉ: www.org/about/history.htm, ngày 20/12/2012 2 Cập nhật đến tháng 10/2012 -8- Kể từ khi ra đời, Ủy ban Giám sát ngân hàng Basel đã ban hành nhiều nguyên tắc, chuẩn mực quan trọng về thanh tra, giám sát ngân hàng và được hầu hết các cơ quan giám sát ngân hàng trên thế giới thừa nhận và áp dụng rộng rãi. Các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế quan trọng nhất bao gồm: - Các (25) nguyên tắc cơ bản giám sát ngân hàng có hiệu quả, ban hành năm 1997; - Hiệp ước vốn (Basel I) ban hành năm 1988; - Hiệp ước vốn (Basel II) ban hành 2004 (hiệu lực thực hiện từ ngày 01/12/2006).
- Hiệp ước vốn mới (Basel III) ban hành năm 2010.2 Mục tiêu hoạt động của Ủy ban Basel Thông qua việc xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và hướng dẫn giám sát hoạt động ngân hàng, mục tiêu hoạt động của Ủy ban Basel là hỗ trợ Ủy ban giám sát các quốc gia nhận diện, xem xét và phòng ngừa các rủi ro trong hoạt động ngân hàng để có được một nền tài chính lành mạnh.3 Các nguyên tắc giám sát ngân hàng hiệu quả3 Các nguyên tắc, chuẩn mực Basel được các tổ chức quốc tế sử dụng làm căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ phát triển và hiệu quả của các hệ thống giám sát ngân hàng, đồng thời được hầu hết các cơ quan giám sát ngân hàng trên thế giới sử dụng như chuẩn mực để kiểm soát. Nội dung chính của 25 nguyên tắc cơ bản giám sát ngân hàng được tóm tắt theo từng chủ đề gồm: Điều kiện tiên quyết để hoạt động giám sát ngân hàng hiệu quả; Cấp phép và cơ cấu; Các quy định và yêu cầu thận trọng; Phương pháp giám sát ngân hàng hiện hành; Yêu cầu về thông tin; Năng lực của thanh tra viên và Hoạt động ngân hàng xuyên quốc gia. 3 Tác giả tạm dịch từ tài liệu: Basel Committee on Banking Supervision, 1997. Core Principles for Effective Banking Supervision, Basel.
-9- Điều kiện tiên quyết để hoạt động giám sát ngân hàng hiệu quả Nguyên tắc số 1: về chức năng, nhiệm vụ, sự độc lập, tính minh bạch và hợp tác của hệ thống giám sát. Một hệ thống giám sát ngân hàng hiệu quả phải phân định rõ trách nhiệm và mục tiêu cho mỗi cơ quan liên quan trong hoạt động giám sát ngân hàng. Mỗi cơ quan giám sát cần phải có nguồn lực và hoạt động độc lập. Một khung pháp lý phù hợp cho hoạt động giám sát ngân hàng cũng rất cần thiết, trong đó bao gồm các quy định về quyền cấp phép thành lập ngân hàng và hoạt động giám sát thường xuyên; quyền xử lý việc tuân thủ pháp luật và những vấn đề về an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng; sự bảo vệ của pháp luật đối với cơ quan giám sát.
Thiết lập cơ chế phù hợp trong việc chia sẻ và bảo mật thông tin giữa các cơ quan giám sát ngân hàng. Cấp phép và cơ cấu Gồm 4 nguyên tắc, từ nguyên tắc 2 đến nguyên tắc 5. Nguyên tắc số 2: Phạm vi hoạt động ngân hàng Cần định nghĩa rõ những hoạt động được phép thực hiện của các tổ chức được cấp phép hoạt động và chịu sự giám sát như các ngân hàng, đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng cụm từ “ngân hàng” trong tên gọi của các tổ chức. Nguyên tắc số 3: Các tiêu chí cấp phép Cơ quan cấp phép có quyền đặt ra những tiêu chuẩn cho việc thành lập ngân hàng và từ chối các đơn xin thành lập không đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Quy trình cấp phép ở mức tối thiểu phải bao gồm các đánh giá cơ bản về cấu trúc sở hữu, thành viên hội đồng quản trị, ban lãnh đạo cao cấp của ngân hàng, kế hoạch hoạt động và kiểm soát nội bộ cũng như tình hình tài chính dự kiến, bao gồm cả nguồn vốn góp của ngân hàng; đối với trường hợp chủ sở hữu hoặc ngân hàng mẹ là một ngân hàng nước ngoài, cần có sự chấp thuận của cơ quan giám sát bản xứ. - 10 - Nguyên tắc số 4: Chuyển đổi quyền sở hữu lớn Cơ quan giám sát có quyền xem xét và bác bỏ những đề xuất chuyển đổi mức cổ phần trọng yếu hay quyền lợi chi phối của ngân hàng đang hoạt động cho các bên khác. Nguyên tắc số 5: Các sáp nhập cơ bản Cơ quan giám sát có quyền đề ra các tiêu chuẩn đánh giá việc sáp nhập hay cấu trúc của ngân hàng và đảm bảo rằng cơ cấu mua lại hay đầu tư không tạo rủi ro cho ngân hàng hay cản trở hoạt động giám sát hiệu quả. Các quy định và yêu cầu thận trọng Gồm 10 nguyên tắc, từ nguyên tắc 6 đến nguyên tắc 15.
Nguyên tắc số 6: An toàn vốn Cơ quan giám sát thiết lập các yêu cầu về mức vốn an toàn tối thiểu đối với các ngân hàng. Các yêu cầu đó phải phản ánh đúng rủi ro trong hoạt động ngân hàng và qui định rõ về cơ cấu vốn có khả năng bù đắp lỗ. Riêng đối với ngân hàng có hoạt động quốc tế, những yêu cầu nói trên không được thấp hơn những yêu cầu đã đưa ra trong Hiệp định vốn Basel và các tài liệu sửa đổi sau đó. Nguyên tắc số 7: Quy trình quản trị rủi ro Một nội dung quan trọng của mọi hệ thống giám sát ngân hàng là việc đánh giá chính sách, thông lệ và thủ tục của ngân hàng trong việc cấp các khoản cho vay, đầu tư; và quản trị thường xuyên danh mục vốn cho vay và đầu tư.
Nguyên tắc số 8: Tài sản có rủi ro, dự phòng và dự trữ Cơ quan giám sát phải biết chắc là ngân hàng có thiết lập và tuân thủ các chính sách, thông lệ và thủ tục đánh giá chất lượng tài sản, trích lập dự phòng tổn thất tín dụng và các khoản dự trữ tổn thất tín dụng. - 11 - Nguyên tắc số 9: Giới hạn tín dụng với khách hàng lớn Cơ quan giám sát phải biết chắc là ngân hàng có hệ thống quản lý thông tin cho phép ban lãnh đạo ngân hàng nhận biết được mức độ tập trung trong danh mục đầu tư. Cơ quan giám sát cần quy định các giới hạn an toàn nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay tập trung vào một số khách hàng hoặc một nhóm khách hàng có liên quan. Nguyên tắc số 10: Rủi ro đối với nhóm khách hàng có liên quan Để ngăn ngừa việc lạm dụng phát sinh từ việc cho vay các bên có liên quan, cơ quan giám sát phải yêu cầu các ngân hàng tiến hành cho vay với các công ty và cá nhân có liên quan trên cơ sở an toàn và việc kéo dài thời hạn vay phải được giám sát chặt chẽ.
Nguyên tắc số 11: Rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển đổi Cơ quan giám sát phải biết chắc là ngân hàng có các chính sách và quy trình đầy đủ để nhận biết, giám sát và kiểm soát rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển đổi trong hoạt động cho vay và đầu tư quốc tế, đồng thời có đủ các chính sách, quy trình để duy trì mức dự trữ hợp lý đối với các rủi ro đó. Nguyên tắc số 12: Rủi ro thị trường Cơ quan giám sát phải biết chắc là ngân hàng có hệ thống cho phép đo lường chính xác, giám sát và kiểm soát toàn diện rủi ro thị trường; cơ quan giám sát phải có quyền quy định những giới hạn cụ thể và/hoặc những yêu cầu về vốn bù đắp rủi ro thị trường nếu cần thiết. Nguyên tắc số 13: Rủi ro khác (rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động) Cơ quan giám sát phải biết chắc rằng ngân hàng duy trì quy trình quản lý rủi ro toàn diện (bao gồm cả vai trò giám sát thích hợp của hội đồng quản trị và ban điều hành cấp cao) nhằm nhận biết, đo lường, giám sát và kiểm soát tất cả các rủi ro trọng yếu khác và duy trì mức vốn bù đắp rủi ro nếu cần thiết. - 12 - Nguyên tắc số 14: Kiểm toán và kiểm soát nội bộ Cơ quan giám sát cần kiểm tra để xác định rằng ngân hàng có hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với tính chất và quy mô hoạt động của ngân hàng.
Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm việc phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm; phân định chức năng trong hoạt động của ngân hàng, chuyển vốn, hạch toán tài sản Có và tài sản Nợ; thống nhất các quy trình; kiểm soát tài sản; chức năng kiểm toán nội bộ có sự độc lập cần thiết hoặc kiểm toán độc lập và chức năng tuân thủ nhằm kiểm tra mức độ tuân thủ của ngân hàng với hệ thống kiểm soát nói trên cũng như với các quy định của luật pháp.