Chương 1: Dẫn nhập, bối cảnh chính sách, phương pháp luận Giới thiệu bối cảnh nghiên cứu và vấn đề chính sách công, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và khung phân tích. Chương 2: Khái quát về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng Trình bày khái quát các vấn đề cơ bản về hoạt động TTGSNH, theo đó đưa ra các khái niệm về thanh tra, giám sát, TTGSNH, mục tiêu, phương thức hoạt động, quy trình thanh tra, giám sát và tổ chức hoạt động TTGSNH ở Việt Nam. Chương 3: Phân tích tình huống Phân tích tình huống thua lỗ 3 ngàn tỷ đồng của ALC II và cho vay đối với Vinashin của các ngân hàng thương mại kết hợp với phân tích thực trạng hoạt động TTGSNH dựa trên các chuẩn mực quốc tế, nguyên tắc giám sát ngân hàng hiệu quả. Qua đó, làm rõ những yếu tố nào làm hạn chế hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN trong việc ngăn chặn, hạn chế những tổn thất ảnh hưởng lớn đến an toàn, hiệu quả hoạt động của các NHTM cũng như sự ổn định, lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
Chương 4: Khuyến nghị giải pháp chính sách Trên cơ sở phân tích ở chương 3, tác giả đưa ra các giải pháp nhằm giúp cải thiện hiệu quả của hoạt động TTGSNH, tăng năng lực trong việc giám sát, ngăn ngừa, giảm thiểu những rủi ro, tổn thất trong hoạt động của các NHTM, góp phần đảm bảo tính ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng. 123doc 6 CHƢƠNG 2: KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT NGÂN HÀNG 2. Khái niệm hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc Latin (inspectare) có nghĩa là nhìn vào bên trong, chỉ một sự kiện kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với một hoạt động của một đối tượng nhất định. Theo từ điển tiếng Việt thì thuật ngữ thanh tra là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”.
Giám sát là hình thức kiểm tra toàn diện, thẩm quyền từ bên ngoài của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, thì giám sát là "theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không". Theo Luật NHNN (2010), thanh tra ngân hàng là “hoạt động thanh tra của NHNN đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng” và giám sát ngân hàng là “hoạt động của NHNN trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về đối tượng giám sát ngân hàng thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Trên cơ sở các khái niệm trên, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng được hiểu là các hoạt động nhằm đảm sự an toàn và lành mạnh hệ thống ngân hàng, bao gồm xây dựng khuôn khổ pháp lý, cấp phép, giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ và cưỡng chế thực thi các yêu cầu chỉnh sửa, cảnh báo rủi ro.
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ tập trung phân tích ở hai hoạt động giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ, là các hoạt động trung tâm, giữ vai trò trong hoạt động TTGSNH. Mục tiêu hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng Với tính chất hoạt động của trung gian tài chính, sử dụng chủ yếu nguồn vốn tiết kiệm để cấp tín dụng, hoạt động các NHTM tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn các ngành kinh doanh khác. Bên cạnh đó, sự khủng hoảng hay đổ vỡ các NHTM có thể ảnh hưởng đến cả hệ thống do sự gắn kết với nhau thông qua thị trường liên ngân hàng hay sở hữu chéo lẫn nhau. Vì vậy, cần có sự giám sát, can thiệp của nhà nước nhằm sửa chữa thất bại của thị trường trong việc hạn chế, khắc phục tình trạng chấp nhận rủi ro quá mức, bất cân xứng thông tin, vấn đề người thừa hành – 123doc 7 người ủy quyền.
Do đó, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng có mục tiêu đảm bảo cho các NHTM hoạt động kinh doanh lành mạnh, an toàn, ít rủi ro và tránh bị đổ vỡ, ổn định hệ thống ngân hàng; bảo vệ lợi ích hợp pháp người gửi tiền; duy trì niềm tin của thị trường vào hệ thống ngân hàng. Phƣơng thức thanh tra, giám sát ngân hàng Phương thức thanh tra, giám sát là phương pháp định hướng cho hoạt động TTGSNH. Thông thường, có ba phương pháp được sử dụng để thanh tra giám sát ngân hàng ở các nước, bao gồm: Thứ nhất, phương pháp tuân thủ là phương pháp đơn thuần chỉ kiểm tra, theo dõi sự tuân thủ các quy định của ngân hàng trung ương, các quy định pháp luật của các NHTM. Thứ hai, phương pháp CAMELS là phương pháp xây dựng dựa trên việc thanh tra, giám sát đối với từng hoạt động chủ yếu của NHTM, bao gồm đảm bảo mức độ an toàn vốn (Capital), chất lượng tài sản có (Assets), hoạt động quản trị ngân hàng (Management), hoạt động thu nhập (Earning), quản trị thanh khoản (Liquidity) và độ nhạy với rủi ro (Sensitivity).
Thứ ba, phương pháp thanh tra, giám sát dựa trên cơ sở rủi ro (risk-based supervision) là phương pháp được xây dựng dựa trên việc giám sát hoạt động của các NHTM thông qua đánh giá các loại hình rủi ro mà các tổ chức này gặp phải. Thông thường, một NHTM có thể gặp phải những loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường và rủi ro pháp lý. Trên cơ sở xác định các loại rủi ro các NHTM đang đối mặt, cơ quan giám sát ngân hàng đưa ra những đánh giá về mức độ rủi ro của từng loại rủi ro và khả năng quản trị của từng loại rủi ro của NHTM. Từ đó đưa ra những khuyến nghị và thiết lập những yêu cầu cần thiết đối với NHTM nhằm giúp cho NHTM có thể có đủ khả năng quản trị rủi ro trong hoạt động.
Quy trình thanh tra, giám sát ngân hàng Như đề cập ở trên, hoạt động TTGSNH bao gồm 4 bước khép kín: định chế, cấp phép; giám sát từ xa; thanh tra tại chỗ và cưỡng chế thực thi, cụ thể như sau: 123doc 8 Bước 1: tạo lập cơ sở pháp lý cho hoạt động của các NHTM, các điều kiện để cấp phép, ban hành những quy định về quản lý rủi ro hoạt động cho các NHTM, tiến hành cấp phép hoạt động. Buớc 2: xây dựng các báo cáo mà các NHTM phải thực hiện, tạo dựng cơ sở dữ liệu để giám sát từ xa. Giám sát từ xa là việc phân tích, đánh giá tình hình hoạt động dựa trên cơ sở thông tin, dữ liệu do các NHTM cung cấp định kỳ và qua việc trao đổi, thu thập thông tin từ các nguồn khác nhau, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp xử lý thích hợp, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động thanh tra tại chỗ. Giám sát từ xa được hiểu là hoạt động mà các giám sát viên ngồi tại trụ sở của mình tiếp nhận các báo cáo, thu thập thông tin để phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của các NHTM.
Bước 3: tiến hành thanh tra tại chỗ theo yêu cầu và dựa trên kết quả giám sát từ xa. Thanh tra tại chỗ là hoạt động tổ chức đoàn thanh tra tiến hành thanh tra trực tiếp hoạt động của các TCTD tại trụ sở của họ trên cơ sở tiếp cận hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến nội dung cần thanh tra. Bước 4: từ kết quả hoạt động thanh tra tại chỗ, các thanh tra, giám sát viên đưa ra các yêu cầu, kiến nghị chỉnh sửa, cảnh báo rủi ro đối với NHTM được thanh tra và là căn cứ thay đổi những quy định và môi trường pháp lý cho phù hợp với thực tế. Tổ chức, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng ở Việt Nam Hoạt động TTGSNH ở Việt Nam hiện được thực hiện bởi cơ quan TTGSNH thuộc NHNN Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 83/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cơ cấu tổ chức bao gồm sáu vụ, một cục, văn phòng và TTGSNH chi nhánh tại 63 chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố.
Theo đó, cơ quan TTGSNH có chức năng tham mưu cho Thống đốc NHNN ban hành quy định về an toàn hoạt động ngân hàng, hướng dẫn tiêu chuẩn thành lập hay giải thể các TCTD; trình Thống đốc NHNN ra quyết định thành lập cấp và thu hồi giấy phép hoạt động các TCTD; thanh tra chuyên ngành về ngân hàng bao gồm thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro, tình hình tài chính và hoạt động các TCTD. Sau đó, Luật NHNN năm 2010 đã bổ sung chức năng giám sát ngân hàng, bao gồm các hoạt động giám sát chấp hành quy định pháp luật, 123doc 9 phân tích tình hình tài chính, hoạt động quản trị điều hành và mức độ rủi ro của đối tượng được giám sát; phát hiện, cảnh báo rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và nguy cơ dẫn đến vi phạm của các TCTD. 123doc 10 CHƢƠNG 3: NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH II VÀ CHO VAY VINASHIN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 3. Tình huống thua lỗ 3.000 tỷ đồng của Công ty cho thuê tài chính II - sự hạn chế của hoạt động giám sát từ xa 3.
Mô tả tình huống Công ty cho thuê tài chính II (ALC II) là doanh nghiệp nhà nước, được thành lập năm 2006, một đơn vị thành viên hạch toán độc lập thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), với vốn điều lệ 350 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực cho thuê tài chính. Theo kết quả kiểm toán của cơ quan Kiểm Toán Nhà Nước ban hành vào cuối tháng 10 năm 2010, mặc dù vừa mới được thành lập với nguồn vốn chủ sở hữu 350 tỷ đồng nhưng ALC II đã huy động vốn từ nhiều tổ chức tài chính lên đến hàng ngàn tỷ đồng và đầu tư tập trung cho thuê tài sản (chiếm 56,6% tổng dư nợ) vào ngành vận tải biển đối với các công ty cổ phần ít vốn mới thành lập, thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh vận tải biển. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ALC II đã thực hiện thẩm định hồ sơ trước khi cho thuê chưa đúng quy định, không kiểm tra chất lượng tài sản, xác định giá; chất lượng thẩm định kém, lỏng lẻo trong việc kiểm tra, giám sát sử dụng vốn của khách hàng.