CHƯƠNG 1 NHỮNG NỘI DƯNG c ơ BẢN VỂ TÀI CHÍNH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA NHCSXH 1. TÍNH ĐẶC THÙ CỦA NHCSXH 1. Vê mô hình tổ chức Trên thế giới hiện nay, vấn đề xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm được các Chính phủ coi như là một trong nhũng chính sách xã hội quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia. Xoá đói giảm nghèo thường được gắn liền với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đòi hỏi một số điều kiện cơ bản, trong đó phát triển thị trường tài chính, tín dụng ở khu vực nông thôn là vấn đề được hầu hết các nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam rất quan tâm.
Tuỳ điều kiện và đặc điểm riêng của mỗi nước, Nhà nước có thể tổ chức các Ngân hàng chuyên ngành thuộc sở hữu Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại cổ phần để thực hiện nhiệm vụ đầu tư cho chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính sách xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, ổn định xã hội. Hoạt động của loại hình Ngân hàng này thường ít quan tâm về mục tiêu lợi nhuận mà mục đích hàng đầu là phát triển ngành, khu vực và vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm. Tham khảo mô hình tổ chức kênh tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và chính sách tín dụng đối với hộ nghèo của một số nước đang phát triển, gắn với điều kiện của Việt Nam, Chính phủ đã quyết định thành lập NHCSXH để thực hiện nhiệm vụ tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Mô hình tổ chức và quản lý trong hệ thống NHCSXH của Việt nam là mô hình đặc thù, thể hiện sâu sắc chủ trương xã hội hoá, dân chủ hóa, thực hiện công khai, minh bạch kênh tín dụng chính sách của Chính phủ.
Tổ chức tín dụng chính sách hoạt động phi lợi nhuận, thực chất là tổ chức tài chính của Chính phủ, 10 thực hiện vai trò điều tiết nguồn lực của Nhà nước, hỗ trợ một phần tài chính cho những người không có khả năng tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các NHTM, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo và phát triển nông nghiệp, nông thôn. Mô hình này có nhiều đặc điểm khác biệt so với các tổ chức tín dụng thương mại truyền thống. Điểm nổi bật là sự tham gia của các cấp (tỉnh, huyện) vào việc quản trị và giám sát hoạt động của NHCSXH. Thành viên của HĐQT và BĐD HĐQT các cấp là đại diện của các Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương và địa phương.
- Tại Trung ương: HĐQT ngoài ba thành viên chuyên trách còn có 9 thành viên kiêm nhiệm là đại diện của các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội. Với mô hình tổ chức này, việc hoạch định các chính sách về tạo lập nguồn vốn, cho vay vốn các đối tượng và việc tổ chức thực hiện hoạt động của NHCSXH sẽ phù họp và đổng bộ với các chương trình chính sách xã hội khác do các Bộ, ngành, đoàn thể thực hiện, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của NHCSXH. - Tại địa phương: Hoạt động quản lý NHCSXH cấp tỉnh và cấp huyện, có sự tham gia của chính quyền địa phương và các tổ chức chính trị- xã hội các cấp (tỉnh, huyện, xã). BĐD HĐQT được thành lập cả ở cấp tỉnh và cấp huyện.
Các thành viên BĐD HĐQT hầu hết làm việc theo chế độ bán chuyên trách, chỉ có một thành viên chuyên trách trực tiếp chỉ đạo điều hành hoạt động NHCSXH tại địa phương. Các Tổ chức chính trị - xã hội là cơ quan quản lý cấp trên của Tổ tiết kiệm và vay vốn tại cơ sở, đóng vai trò là cầu nối quan trọng giữa các tổ nhóm và hệ thống NHCSXH, tư vấn cho các Tổ tiết kiệm và vay vốn, nâng cao ý thức tự lực, tự cường. Đồng thời cùng với ngân hàng giám sát người vay sử dụng vốn vay đúng mục đích, đôn đốc thu hồi nợ và xử lý các khoản nợ rủi ro. Đối với tổ tiết kiệm và vay vốn được xác định như một tổ chức tín dụng ở cơ sở trong cơ cấu hệ thống tổ chức quản lý tín dụng NHCSXH.
11 Với Mô hình tổ chức và quản lý mang tính đặc thù như trên đã thể hiện rõ bản chất xã hội hoá, dân chủ hoá kênh tín dụng chính sách của Chính phủ, khác xa so với các tổ chức tín dụng thương mại truyền thống. Về cơ chê hoạt động 1. Mục tiêu hoạt động Việt Nam được xếp vào một trong nhũng nước nghèo trên thế giới. Đảng và Nhà nước cam kết bằng mọi nỗ lực phải xoá đói giảm nghèo thông qua những chương trình quốc gia, trong đó có chương trình tín dụng cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Chương trình này đã được sự ủng hộ của nhiều Chính phủ và các tổ chức quốc tế. Những năm trước đây các NHTM quốc doanh là những tổ chức tín dụng Nhà nước thực hiện chương trình tín dụng hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Tuy nhiên với chức năng và mục tiêu hoạt động của các NHTM là thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu, muốn tồn tại và phát triển các NHTM phải có mức chênh lệch dương về lãi suất cho vay và huy động vốn, tối đa hoá lợi nhuận, tạo ra sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường. Mặt khác thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói chung cũng như ngành Ngân hàng nói riêng, trong cam kết của Việt Nam khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO là phải “tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mạĩ'\ đòi hỏi phải có một kênh tín dụng chính sách để thực hiện nhiệm vụ tín dụng hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Ngày 04/10/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội, hoạt động như một định chế tài chính đặc thù của Nhà nước để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Là tổ chức tín dụng Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện cho vay với lãi suất và các điều kiện ưu đãi với mục tiêu chính là: Xoá 12 đói, giảm nghèo tạo việc làm góp phần ổn định kinh tế, chính trị- xã hội. Đây là điểm khác biệt cơ bản của NHCSXH với các NHTM khác. Đối tượng phục vụ Khách hàng vay vốn của NHCSXH là nhũng đối tượng có sức cạnh tranh yếu trong nền sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường và không đủ các điều kiện để tiếp cận với tín dụng của các NHTM.
Hầu hết đối tượng phục vụ của NHCSXH là hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác thiếu vốn sản xuất, kinh doanh thường tập trung ở nhũng vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện thời tiết, khí hậu, địa hình núi cao hiểm trở bị chia cắt. Vì vậy việc đầu tư tín dụng của các NHTM tại những địa bàn này có chi phí lớn, rủi ro tín dụng cao, hiệu quả kinh doanh không thoả mãn được mục tiêu lợi nhuận. + Đối với kinh tế hộ gia đình: NHCSXH hỗ trợ các hộ gia đình nghèo, gia đình chính sách thiếu vốn sản xuất kinh doanh từng bước phát triển sản xuất kinh doanh, cải thiện chất lượng cuộc sống. + Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các hợp tác xã, NHCSXH cho vay để tạo việc làm, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp tại các địa phương.
+ Đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, NHCSXH cho vay để trang trải các chi phí học tập. + Đối với các tổ chức cá nhân hộ sản xuất kinh doanh thuộc những khu vực kinh tế kém phát triển, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh, dịch vụ, khuyến khích các đơn vị, cá nhân đầu từ sản xuất vào những vùng khó khăn nhằm nâng cao đời sống của một bộ phận các hộ gia đình tại những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn kém phát triển. Cơ chế về nguồn vốn Do đặc điểm tín dụng của NHCSXH là theo sự chỉ định của Chính phủ, vì vậy 13 phần lớn nguồn vốn của NHCSXH phụ thuộc vào NSNN, việc tăng trưởng nguồn vốn được xác định theo mục tiêu và kế hoạch của Chính phủ. về cơ cấu nguồn vốn và nguồn hình thành cũng có sự khác biệt với các NHTM, sự khác biệt thể hiện ở chỗ: - Nguồn vốn chủ sở hữu của các NHTM chiếm tỷ trọng nhỏ thông thưòng chiếm khoảng 8% tổng nguồn vốn, phần còn lại là huy động và đi vay trên thị trường, trong khi đó Nguồn vốn chủ sở hữu của NHCSXH chiếm khoảng 30% tổng nguồn vốn.
- Nguồn vốn của các NHTM chủ yếu do huy động trên thị trường (đặc trưng của NHTM là đi vay để cho vay) còn đối với NHCSXH nguồn vốn này được tạo lập chủ yếu từ NSNN theo các hình thức: + Cấp vốn điều lệ ban đầu và hàng năm được NSNN bổ sung thêm. + Nguồn vốn do kết dư Ngân sách địa phương (tăng thu, tiết kiệm chi) của Ngân sách địa phương chuyển sang để thực hiện chương trình tín dụng đối với các đối tượng chính sách theo vùng. + Nguồn vốn của Chính phủ vay dân dưới hình thức phát hành trái phiếu, công trái. để thực hiện chương trình tín dụng ưu đãi.
+ Nguồn vốn do các NHTM Nhà nước gửi theo cơ chế (phải gửi 2% số vốn huy động trên thị trường bằng nội tệ vào NHCSXH và được trả theo lãi suất huy động bình quân đầu vào của các NHTM cộng thêm chi phí quản lý tiền gửi của NHTM, chi phí quản lý do NHCSXH và NHTM thoả thuận). + Nguồn vốn huy động trên thị trường được NSNN cấp bù chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay của NHCSXH. + Nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Cơ chế sử dụng vốn Cơ chế sử dụng vốn của NHCSXH mang một số nét đặc thù như sau: 14 + Vốn đầu tư tín dụng có rủi ro cao vì tín dụng của NHCSXH chủ yếu tập trung ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi có môi trường điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trong khi đó sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, mặt khác người vay vốn thường thiếu kiến thức trong sản xuất kinh doanh nên dễ bị thua lỗ.