chương 1 là tiền đề khẳng định cho con đường đi của đề tài là khoa học, giải quyết được đúng yêu cầu của thực tế, đúng nguồn gốc sự việc. Đặc biệt với một hệ thống thông tin lớn bậc nhất trong ngành tài chính Ngân hàng thì việc đưa ra những bằng chứng khoa học thuyết phục cho giải pháp có ảnh hưởng lớn trong thực tế. Chúng ta nghiên cứu từng phần của chương để thấy được bức tranh tổng thể của đề tài, thấy được yêu cầu cấp bách mà đề tài cần giải quyết, cũng như thấy được sự thuyết phục khoa học mà đề tài sẽ đáp ứng. CHIẾN LƯỢC TẬP TRUNG HOÁ TÀI KHOẢN VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ NH.
Thực trạng hệ thống thanh toán của các Ngân hàng Việt Nam. Mô hình tổ chức Hệ thống Ngân hàng của Việt Nam[8]. Ngân hàng nhà nước Việt Nam ra đời năm 1951. Trong suốt giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1986, Ngân hàng nhà nước Việt Nam là một cơ quan duy nhất vừa thực hiện quản lí nhà nước về hoạt động Ngân hàng vừa thực hiện kinh doanh, phát hành tiền tệ.
Hệ thống Ngân hàng nhà nước thời kỳ này được tổ chức theo một mạng lưới các chi nhánh trên phạm vi gần 41 tỉnh thành và khoảng 600 chi nhánh cấp huyện. Bên cạnh mạng lưới của Ngân hàng nhà nước là các Ngân hàng chuyên doanh như Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng đầu tư Việt Nam và Quĩ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa hoạt động dưới hình thức bảo trợ của nhà nước. Sau đại hội Đảng VI, Đảng và Nhà Nước ta chủ trương đường lối đổi mới, mở cửa và cải cách phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một bước đi mới cho sự phát triển nền kinh tế đất nước.
Từ đây, hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế đất nước. 12 z Năm 1990, thực hiện pháp lệnh Ngân hàng, chúng ta xây dựng hệ thống Ngân hàng Việt Nam gồm 2 cấp: cấp 1: Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện chức năng quản lí nhà nước về hoạt động Ngân hàng, ra chính sách tiền tệ, phát hành tiền; cấp 2: Các Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ Ngân hàng. Tại thời điểm này, số lượng các Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng có rất ít gồm: 4 Ngân hàng thương mại nhà nước là: Ngân hàng đầu tư và phát triển, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng công thương, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Ngân hàng nhà nước Việt Nam (Ngân hàng TW và các chi nhánh NHNN) Thực hiện vai trò quản lí NN, giám sát, ra chính sách chung về tiền tệ, Ngân hàng.
Các tổ chức tín dụng: Ngân hàng thương mại nhà nước, Ngân hàng cổ phần, liên doanh, nước ngoài tại Việt Nam Giữ vai trò kinh doanh, cung cấp các dịch vụ Ngân hàng tới khách hàng. Mô hình phân cấp hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Hiện nay, địa giới hành chính của nước ta gồm 64 tỉnh thành và hơn 500 huyện thị. Tương ứng với số lượng này là hàng ngàn các chi nhánh Ngân hàng các cấp khác nhau.
Cụ thể như sau: Ngân hàng nhà nước Việt Nam có 64 chi nhánh tại 64 tỉnh trên cả nước. Có trên tám mươi tổ chức tín dụng trong cả nước, bao gồm 5 Ngân hàng thương mại nhà nước, 12 Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, 4 Ngân hàng liên doanh, 34 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài. 13 z Mỗi Ngân hàng thương mại có hội sở chính và các chi nhánh của mình trên khắp các tỉnh thành, huyện thị. Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có số lượng các chi nhánh lên tới hàng ngàn với cấp xã phường.
Hai Ngân hàng đầu tư và ngoại thương đã mở các chi nhánh tại một số nước trên thế giới. Với mô hình tổ chức của hệ thống Ngân hàng Việt Nam như trên, các hệ thống thông tin nghiệp vụ trong các cấp Ngân hàng khác nhau cũng khác nhau, mang những đặc trưng riêng cho từng nghiệp vụ mà Ngân hàng của mình đảm nhận. Chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết các hệ thống này tiếp sau đây. Thực trạng những hệ thống thông tin trong các NHVN[8].
Hệ thống thông tin tại các Ngân hàng thương mại. Vai trò của các NHTM và các tổ chức tín dụng là thực hiện kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ Ngân hàng khác, cung cấp các dịch vụ Ngân hàng đến khách hàng. Do đó, nghiệp vụ của các ngân NHTM và các tổ chức tín dụng tập trung vào việc quản lí khách hàng, dịch vụ cho vay, huy động vốn, thanh toán thẻ…Các nghiệp vụ này liên quan đến bài toán bán lẻ, hay các dịch vụ Ngân hàng nhỏ lẻ đến các khách hàng. Những nghiệp vụ trên của các NHTM và các tổ chức tín dụng chủ yếu tập trung vào hệ thống thông tin kế toán Ngân hàng, liên quan đến bài toán bán lẻ.
Do nghiệp vụ của bài toàn này phức tạp và gồm nhiều dịch vụ khác nhau cung cấp cho khách hàng nên các hệ thống thông tin ở đây cũng rất phức tạp. Hiện tại, có 4 tiểu dự án hiện đại hoá các nghiệp vụ Ngân hàng được Ngân hàng thế giới tài trợ cho 4 Ngân hàng thương mại nhà nước lớn như NH Ngoại thương, NH Đầu tư và phát triển, NH Công thương, NH Nông nghiệp để xây dựng các hệ thống kế toán bán lẻ tập trung. Hệ thống này cho phép theo dõi toàn bộ các hoạt động các nghiệp vụ của các NHTM này được tiến hành tập trung tại trung tâm, quyết toán đối chiếu cuối ngày, nâng cao nâng lực quản lí, giám sát, thanh toán của các NHTM, mở rộng thêm nhiều dịch vụ Ngân hàng dựa trên tài khoản khách hàng. Đây thực sự là những hệ thống cốt lõi của các NHTM.
14 z Tuy nhiên, hệ thống này đang được xây dựng và thực hiện trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hoá các nghiệp vụ Ngân hàng. Việc tăng trưởng không ngừng các dịch vụ Ngân hàng hiện đại dẫn đến tăng số lượng giao dịch khách hàng, các NHTM này đang tiến hành thực hiện nâng cấp, nhằm hoàn thành các hệ thống này hơn nữa trong giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, những NHTM nhỏ lẻ khác hiện chưa có điều kiện xây dựng và phát triển các hệ thống tập trung như vậy. Họ vẫn sử dụng các hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng đơn lẻ, phân tán tại các đơn vị chi nhánh.
Điều này làm cản trở năng lực hoạt động của các Ngân hàng. Hệ thống thông tin tại Ngân hàng Nhà nước VN. Với vị trí và vai trò là Ngân hàng trung ương của mình, NH Nhà nước Việt Nam có thực hiện một số nghiệp vụ như quản lí và giám sát các hoạt động của NHTM, thực hiện vai trò đầu mối thanh toán cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng Việt Nam hay thực hiện chính sách tiền tệ Ngân hàng. Do đó, các hệ thống thông tin của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng nhằm đáp ứng các nghiệp vụ này.
Các hệ thống thông tin tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam bao gồm: Hệ thống thanh toán liên Ngân hàng (thực hiện đầu mối thanh toán giữa tất cả các NHTM), các hệ thống thanh tra giám sát hoạt động các NHTM, hệ thống báo cáo thống kê, hệ thống thông tin khách hàng trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, hệ thống quản lí nợ ,…. Tất cả các hệ thống trên đã được xây dựng và đưa vào ứng dụng trong những năm gần đây. Chúng đã có những đóng góp lớn giúp tăng cường chất lượng dịch vụ Ngân hàng của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, phục vụ đắc lực cho sự phát triển nền kinh tế Việt Nam. Trong hệ thống thanh toán điện tử liên Ngân hàng, các giao dịch giữa các NHTM đã được thực hiện thành công trong thời gian nhanh nhất từ trước tới giờ (t <10s), lưu lượng thanh toán hàng ngày trong toàn hệ thống là hơn 10000 giao dịch.
15 z Hệ thống này giúp tăng khả năng huy động và quay vòng vốn cho các NHTM, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, các hệ thống thông tin trên đã có những yêu cầu nâng cấp trước tốc độ tăng trưởng không ngừng của nền kinh tế dẫn đến tăng cao yêu cầu thanh toán, quản lí, giám sát các hoạt động Ngân hàng cũng như nhu cầu mở rộng các nghiệp vụ Ngân hàng và việc phối hợp phát huy hiệu quả và vai trò của các hệ thống thông tin nghiệp vụ này. Chiến lược tập trung hoá tài khoản Ngân hàng[8]. Mục đích của việc tập trung hoá tài khoản.
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, hội nhập và hợp tác. Quá trình hội nhập đòi hỏi mọi thành phần kinh tế phải nỗ lực không ngừng để tăng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường. Một trong những nỗ lực đó là phải đẩy mạnh việc hiện đại hoá công nghệ, nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường. Ngành Ngân hàng cũng không phải là một ngoại lệ, chính vì lẽ đó việc thực hiện thành công công cuộc hiện đại hoá trong ngành Ngân hàng chính là nhiệm vụ cấp bách hiện nay.
Quá trình hiện đại hoá Ngân hàng bao gồm: hiện đại hoá các nghiệp vụ, tăng cường các dịch vụ Ngân hàng hiện đại nhờ đầu từ công nghệ để tăng cao sức cạnh tranh đã được đặt ra. Trong những yêu cầu trên, việc tập trung hoá tài khoản thanh toán là một trong những xu hướng phát triển tất yếu để hiện đại hoá Hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Một trong những tồn tại của hệ thống tài khoản thanh toán của Việt Nam hiện nay là sự phân tán tài khoản khách hàng tại nhiều chi nhánh. Sự phân tán này sẽ chia nhỏ vốn tiền gửi dẫn đến hạn chế trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và quản lý của nhà nước, gây khó khăn trong việc điều chuyển vốn thừa, thiếu giữa các chi nhánh cũng như mở rộng các dịch vụ hiện đại để thu hút khách hàng.
Trong khi đó, hệ thống tài khoản thanh toán tập trung đem lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế, bao gồm các khách hàng và cả hệ thống Ngân hàng. 16 z Cùng một lúc, khách hàng có thể tiếp cận với nhiều loại hình dịch vụ Ngân hàng hiện đại tại nhiều địa điểm khác nhau, rút ngắn thời gian và giảm chi phí giao dịch với Ngân hàng. Do đó, các Ngân hàng có thể xoá bỏ tình trạng khan hiếm tiền mặt giả tạo và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn nhờ được tăng cường khả năng tích tụ và tập trung vốn.