CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TẠI NHTM 1. THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG 1. Khái niệm về thẩm định tín dụng Khi cấp vốn cho khách hàng, các ngân hàng đều mong muốn khách hàng sẽ hoàn trả gốc và lãi theo đúng thỏa thuận sau một thời gian nhất định. Vì vậy, quá trình xem xét, phân tích tín dụng trước khi cho vay là cần thiết nhằm xác định khả năng hoàn trả và những rủi ro có thể đi kèm khi cho vay.
Trong quá trình này, ngân hàng cố gắng thay thế những cảm nhận chủ quan của mình về người đi vay bằng những lý lẽ khoa học dựa trên những cơ sở nghiên cứu cẩn trọng các mặt mạnh và yếu của người đi vay. Quá trình này còn được gọi là Thẩm định tín dụng. “Thẩm định tín dụng là quá trình xem xét, phân tích các tài liệu, các thông tin cần thiết về khách hàng có nhu cầu tín dụng mà ngân hàng thu thập được, để từ đó làm căn cứ quyết định trước khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn.” Quá trình này được bắt đầu khi khách hàng phát sinh nhu cầu vay vốn tại ngân hàng và tiến hành nộp hồ sơ xin vay tại ngân hàng. Như vậy, thẩm định tín dụng thực chất là việc dựa trên cơ sở các quy định, quy trình cho vay đã ban hành, ngân hàng sẽ tổ chức xem xét một cách khách quan, toàn diện các vấn đề liên quan đến khách hàng và nhu cầu xin vay của khách hàng.
Từ đó, ngân hàng đưa ra quyết định cho vay hay không, cho vay với các điều kiện như thế nào để đảm bảo vừa sinh lợi và phát huy hiệu quả hoạt động kinh doanh cho doanh nghiệp (đối với khách hàng doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh), đáp ứng nhu cầu chi tiêu của khách hàng (đối với khách hàng cá nhân tiêu dùng), vừa an toàn, hiệu quả cho ngân hàng với mức rủi ro thấp nhất. Vai trò của thẩm định tín dụng Tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu mang lại lợi nhuận cho ngân hàng khi chiếm ít nhất 70% tổng lợi nhuận của ngân hàng, đặc biệt là tại các NHTM Việt Nam. Hoạt động tín dụng có thể mang lại lợi nhuận rất cao nhưng cũng đồng thời là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ, phá sản của một ngân hàng do đây là hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Vì vậy, việc thẩm định cho vay nhằm giúp ngân hàng đưa ra các quyết định cho vay đúng đắn, đúng đối tượng, vừa hiệu quả, vừa an toàn, tránh rủi ro, thiệt hại cho ngân hàng khi đầu tư vốn vào những khách hàng thiếu năng lực tài chính, phương án không khả thi.
Ngoài ra, do nguồn vốn dùng để cho vay của mỗi ngân hàng là hữu hạn, trong khi nhu cầu vay vốn của nền kinh tế là vô hạn với những nhu cầu sử dụng vốn vay và hiệu quả kinh doanh khác nhau. Do đó, thẩm định cho vay còn nhằm mục đích là tập trung vốn đầu tư vào những nơi an toàn, hợp pháp và hiệu quả nhất, phù hợp với định hướng phát triển mà NHTM đó đã đặt ra. Nguồn thông tin để thẩm định tín dụng Như chúng ta đã biết thẩm định tín dụng là một quá trình thu thập và xử lý thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định. Do đó vấn đề quan trọng thiết yếu đầu tiên khi thực hiện thẩm định tín dụng là vấn đề thu thập thông tin có chất lượng.
Chất lượng thông tin đưa vào thẩm định có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thẩm định, qua đó ảnh hưởng đến quyết định cấp tín dụng. Chất lượng thông tin thể hiện ở ba thuộc tính sau: (1) đầy đủ, (2) kịp thời, (3) chính xác. Chỉ khi nào thông tin thu thập được với đày đủ ba thuộc tính này thì mới xem là thông tin có chất lượng và là thông tin hữu ích cho cho quá trình thẩm định. Cán bộ thẩm định có thể thu thập được các thông tin từ các nguồn sau: - Hồ sơ khách hàng: Cung cấp cho chúng ta hai loại thông tin.
Thứ nhất đó là thông tin do khách hàng tự khai như đơn xin vay, giấy giới thiệu, phương án, dự án sử dụng vốn…Thứ hai đó là thông tin đã được chứng nhận bởi một cơ quan có thẩm quyền như là báo cáo tài chính đã được kiểm toán (khách hàng doanh nghiệp), 123doc -8- bảng lương được xác nhận bởi công ty khách hàng vay đang làm việc (khách hàng cá nhân), CMND, Hộ khẩu… Nhược điểm của nguồn thông tin này là mức độ tin cậy không cao vì thông tin này do chính khách hàng cung cấp. - Tài liệu lưu giữ tại ngân hàng: Lịch sử vay vốn, tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. Nguồn thông tin này rất quan trọng vì nó đã trải qua kiểm chứng và đáng tin cậy. Nếu khách hàng từng vay vốn tại ngân hàng thì chúng ta biết được trước đây khách hàng có chấp hành tốt các điều khoản của hợp đồng tín dụng hay không…giúp ngân hàng tiết kiệm được nhiều thời gian cho việc thẩm định tiếp theo.
Nhược điểm của nguồn thông tin này là lạc hậu theo thời gian và không phải lúc nào phù hợp với việc thẩm định khoản vay hiện tại. - Phỏng vấn và điều tra thực tế: Thông qua phỏng vấn, ngân hàng có thể loại bỏ được một số thông tin gây nhiễu để từ đó chắt lọc thông tin chính xác hơn phục vụ cho việc thẩm định. Ngoài ra, thông tin qua phỏng vấn còn có thể bổ sung thêm cho thông tin về khách hàng mà qua hồ sơ vay chưa thể thu tập đầy đủ. Việc điều tra khách hàng giúp ngân hàng kiểm chứng và cập nhật hóa thông tin.
Các nguồn khác: Từ bạn hàng đối tác của khách hàng, cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan quản lý doanh nghiệp, các phương tiện thông tin, Trung tâm Thông tin tín dụng NHNN (CIC)… 1. Nội dung của thẩm định tín dụng Việc thẩm định cho vay bắt đầu khi CBTĐ tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng. Nội dung thẩm định bao gồm các bước sau : 1. Đánh giá các nguồn thông tin theo hồ sơ Khi khách hàng gửi hồ sơ vay vốn cho ngân hàng, CBTĐ sẽ tiến hành đánh giá mức độ đầy đủ, hợp lệ cũng như những yếu tố cơ bản có liên quan đến hồ sơ như hồ sơ pháp lý, tình hình tài chính, phương án vay vốn, tài sản bảo đảm để yêu cầu khách hàng bổ sung.
Thu thập thông tin liên quan đến hồ sơ vay của khách hàng Dựa trên hồ sơ vay vốn hoàn chỉnh mà khách hàng đã gửi, CBTĐ tiến hành thu thập, tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình thẩm định khách hàng. Trong trường hợp hồ sơ vay vốn khách hàng chưa thể cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, CBTĐ có thể sử dụng các kênh thông tin sau để khai thác : - Thông tin từ các nhà cung cấp hàng hóa, thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào, dịch vụ, các nhà tiêu thụ sản phẩm của dự án, qua đó có thể đánh giá tình hình thị trường đầu vào, đầu ra. - Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng như báo, mạng, đài., từ các cơ quan quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp. - Thông tin được tìm hiểu qua các báo cáo, nghiên cứu, hội thảo, chuyên đề.
- Thông tin từ các phương án, dự án tương tự. Kiểm tra, xử lý thông tin Sau khi đã thu thập đầy đủ các thông tin, để việc thẩm định chính xác, hiệu quả, đòi hỏi CBTĐ phải trải qua quá trình sàng lọc thông tin để đảm bảo các thông tin có được là đáng tin cậy. Việc kiểm tra thông tin được dựa vào các nguồn sau : - Hồ sơ vay vốn trước đây (nếu có) và hiện tại của khách hàng tại ngân hàng. - Trung tâm thông tin tín dụng NHNN (CIC).
- Thăm dò, đối chiếu với các bạn hàng, đối tác làm ăn như các nhà cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị, dịch vụ cũng như các khách hàng tiêu thụ sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp. - Các cơ quan quản lý trực tiếp khách hàng xin vay như Sở KH&ĐT. Thẩm định năng lực pháp lý, uy tín của khách hàng Năng lực pháp lý là cơ sở để xem khách hàng có khả năng tham gia vào quan hệ tín dụng hay không, hay nói cách khác là khách hàng có đủ tiêu chuẩn để vay vốn hay không. Thẩm định năng lực tài chính của khách hàng Đây là nội dung thẩm định nhằm đánh giá chính xác thực trạng tài chính, khả năng độc lập tự chủ của doanh nghiệp trong kinh doanh, khả năng tự cân đối các nguồn tiền có thể sử dụng chi trả khi cần thiết mà đặc biệt là khả năng thanh toán và chỉ tiêu sinh lời.
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết là một trong những điều kiện tiên quyết để xem xét khi cho vay. Thẩm định mục đích sử dụng vốn vay Mục đích sử dụng vốn là phương hướng sử dụng, sản xuất, kinh doanh không trái với các quy định của pháp luật mà khách hàng trình lên ngân hàng xin cấp vốn, khi ngân hàng chấp nhận cấp vốn thì khách hàng được sử dụng nhằm đạt được mục đích đó. Thẩm định phương án sử dụng vốn Thẩm định phương án, dự án vay vốn của DN để xem xét tính khả thi và hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ cũng như những rủi ro có thể xảy ra. Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể quyết định nên cho vay hay không và nếu cho vay thì số tiền cho vay, thời gian cho vay, tiến độ giải ngân, mức thu nợ thế nào là hợp lý, nhằm đảm bảo khách hàng hoạt động có hiệu quả, hạn chế rủi ro cho ngân hàng.
- Đối với trường hợp thẩm định phương án kinh doanh Khi khách hàng có nhu vay vốn ngắn hạn, CBTD sẽ xác định phương thức cho vay phù hợp (cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng hoặc các phương thức cho vay ngắn hạn khác theo quy định của NHTM). Dựa trên kế hoạch SXKD/PA từng lần KH đã xây dựng, CBTD thực hiện thẩm định, kiểm tra tính hợp lý và đầy đủ của các khoản mục doanh thu, chi phí.