phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về vấn đề nợ quá hạn và ngăn ngừa, xử lý nợ quá hạn tại các ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng ngăn ngừa và xử lý nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc. Chƣơng 3: Một số biện pháp ngăn ngừa và xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới. 5 z CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ NỢ QUÁ HẠN VÀ NGĂN NGỪA, XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại 1.Tín dụng ngân hàng 1.
Khái niệm tín dụng ngân hàng Khái niệm tín dụng xuất phát từ gốc latinh “Creditumn”- có nghĩa là lòng tin tƣởng, tín nhiệm. Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền. Quan hệ tín dụng đầu tiên và thô sơ nhất là phát sinh ngay từ khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã là tín dụng nặng lãi. Khi đó xã hội bắt đầu phân chia giai cấp, chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất và có hiện tƣợng phân hóa giàu nghèo.
Để duy trì cuộc sống bình thƣờng trong xã hội, tất yếu phải diễn ra quá trình điều hòa sản phẩm từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ kẻ giàu sang ngƣời nghèo. Quá trình này đƣợc thực hiện dƣới hình thức vay mƣợn. Do sản phẩm dƣ thừa dùng để cho vay ít, mà số ngƣời cần vay thì nhiều nên ngƣời cho vay thu lãi rất cao. Vì vậy, quan hệ tín dụng này đƣợc gọi là ”tín dụng nặng lãi”.
Trong thời gian đầu, tín dụng nặng lãi đƣợc thực hiện bằng hiện vật – hàng hóa. Về sau theo quá trình phát triển của nền kinh tế, vừa cho vay bằng hàng hóa, vừa cho vay bằng tiền. Khi phƣơng thức tƣ bản chủ nghĩa hình thành thì nền sản xuất hàng hóa lớn cũng đƣợc mở rộng và phát triển. Lúc này, tín dụng nặng lãi đã không còn thích hợp với phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa nữa.
Giai cấp tƣ bản đã tự tạo lập cho mình một hình thức tín dụng mới- tín dụng tƣ bản chủ nghĩa. Ngày nay, do sự phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế, đòi hỏi các quan hệ và hình thức tín dụng trong nền kinh tế thị trƣờng cũng phát triển đa dạng và phong phú, phù hợp yêu cầu nền kinh tế quốc dân và hội nhập kinh tế quốc tế. Vậy khái niệm về tín dụng có thể đƣợc hiểu tổng quát nhƣ sau: tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.123] 6 z Khái niệm tín dụng thể hiện ở ba nội dung cơ bản: - Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lƣợng vốn từ ngƣời này sang ngƣời khác - Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời. Đó là thời gian sử dụng vốn.
Nó là kết quả của sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhƣợng để đảm bảo cho sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lƣợng vốn đó - Ngƣời đi vay phải hoàn trả đúng hạn cho ngƣời cho vay cả vốn gốc và lãi Trong thực tiễn, quan hệ tín dụng đƣợc hình thành hết sức đa dạng và phong phú, có đầy đủ các chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng nhƣ: Quan hệ giữa Nhà nƣớc với các doanh nghiệp và công chúng, thể hiện dƣới hình thức Nhà nƣớc phát hành các giấy nợ nhƣ công trái, trái phiếu đô thị, tín phiếu kho bạc,. Quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau, thể hiện dƣới hình thức mua chịu, bán chịu hàng hóa,. Quan hệ tín dụng giữa các tổ chức tín dụng ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng với các doanh nghiệp và công chúng thể hiện dƣới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, cho khách hàng vay tài trợ và thuê mua,. Quan hệ tín dụng giữa Nhà nƣớc với các tổ chức tín dụng quốc tế, chính phủ các nƣớc thể hiện dƣới hình thức vay nợ.
Những hành vi tín dụng có thể bất cứ ai làm cũng đƣợc, đơn giản nhƣ việc hai ngƣời cho nhau vay tiền. Tuy nhiên, với thời gian, chúng ta thấy hành vi tín dụng có xu hƣớng tập trung vào các ngân hàng, từ đó hình thành một sự chuyên nghiệp hóa trong hành vi tín dụng. Ngày nay, khi nói tới tín dụng, ngƣời ta nghĩ ngay tới các Ngân hàng vì tổ chức này chuyên làm các công việc nhƣ cho vay, bảo lãnh, chiết khấu,. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và bên kia là các tác nhân (doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội.) trong nền kinh tế quốc dân.
138] 7 z Có thể nói tín dụng là chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tài chính nói chung và của ngân hàng nói riêng, là dịch vụ sinh lời chủ yếu của các tổ chức này. * Các ngân hàng thương mại tham gia vào hoạt động tín dụng với hai tư cách: 1) Ngân hàng đóng vai trò là ngƣời đi vay thông qua các hoạt động: nhận tiền gửi của khách hàng, phát hành trái phiếu để vay vốn xã hội, vay vốn ngân hàng trung ƣơng (NHTW) hay vay vốn ngân hàng khác trên thị trƣờng liên ngân hàng. 2) Ngân hàng đóng vai trò ngƣời cho vay bằng việc: cho các cá nhân hoặc các doanh nghiệp vay vốn, tài trợ - thuê mua cho các doanh nghiệp,. Đặc trưng của tín dụng Quan hệ tín dụng có bốn đặc trƣng cơ bản: lòng tin, tính hoàn trả, tính thời hạn và ẩn chứa khả năng rủi ro Lòng tin: thể hiện trong quan hệ tín dụng ở việc ngƣời cho vay luôn tin tƣởng vào ý định trả nợ, có khả năng trả nợ của ngƣời vay cũng nhƣ tin rằng ngƣời vay sau khi sử dụng một lƣợng giá trị mà ngƣời cho vay cung cấp sẽ đem về một lƣợng giá trị lớn hơn.
Tính hoàn trả: đây là đặc trƣng cơ bản nhất trong quan hệ tín dụng. Sự hoàn trả là tiêu chuẩn phân biệt quan hệ tín dụng với các quan hệ khác. Nếu không có sự hoàn trả thì đó là quan hệ tín dụng không tốt đẹp. Không có sự hoàn trả thì ngƣời cho vay sẽ không thu hồi đƣợc vốn và dẫn đến thua lỗ, phá sản, đi ngƣợc lại với lợi ích kinh doanh.
Tính thời hạn: xuất phát từ bản chất của tín dụng, đó là sự tín nhiệm, ngƣời cho vay tin tƣởng ngƣời đi vay hoàn trả vào một ngày trong tƣơng lai đã thoả thuận. Ngƣời đi vay sẽ chỉ đƣợc sử dụng vốn vay trong một khoản thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn nhƣ đã thoả thuận thì ngƣời đi vay phải hoàn trả lại cho ngƣời vay. 8 z Tính ẩn chứa nhiều khả năng rủi ro: do sự bất cân xứng về thông tin, ngƣời cho vay không biết rõ về ngƣời đi vay, điều này có thế dẫn đến rủi ro lựa chọn nghịch hoặc rủi ro đạo đức. Một mối quan hệ tín dụng đƣợc gọi là tốt đẹp nếu ngƣời đi vay hoàn trả lại đƣợc cả gốc và lãi đúng thời hạn theo hợp đồng hai bên đã ký kết.
Tuy nhiên trong thực tế lại không hiếm trƣờng hợp ngƣời đi vay không thực hiện đƣợc nghĩa vụ của mình đối với chủ nợ do các nguyên nhân chủ quan hay khách quan gây ra. Đó là trƣờng hợp khi đến hạn trả vốn vay, ngƣời vay không thể hoàn trả đƣợc khoản nợ của mình dẫn đến nợ quá hạn, hình thành các khoản nợ xấu,. Nợ quá hạn, nợ xấu là biểu hiện không lành mạnh của quá trình hoạt động tín dụng, nó báo hiệu sự xuất hiện của rủi ro (rủi ro vốn, rủi ro thanh khoản,. Phân loại tín dụng ngân hàng * Căn cứ vào thời hạn khoản vay - Tín dụng ngắn hạn: đây là loại tín dụng có thời hạn dƣới một năm và đƣợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động của doanh nghiệp và nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ trên 1 đến 5 năm, loại tín dụng này chủ yếu dùng để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có nguy cơ nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: có thời hạn từ 5 năm trở lên. Loại tín dụng này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu dài hạn nhƣ: xây dựng nhà xƣởng, các thiết bị phƣơng tiện vận tải có quy mô lớn hay xây dựng các nhà máy mới. * Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn - Tín dụng bất động sản: đây là các khoản tín dụng đƣợc bảo đảm bằng bất động sản , bao gồm: tín dụng ngắn hạn cho xây dựng cơ sở hạ tầng và mở rộng đất đai; tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ trang trại và bất động sản ở nƣớc ngoài.
9 z - Tín dụng công thƣơng nghiệp: đây là các khoản tín dụng trợ cấp cho doanh nghiệp để trang trải các chi phí nhƣ mua nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lƣơng. - Tín dụng nông nghiệp: đây là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông nghiệp nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc. - Tín dụng cá nhân: đây là các khoản tín dụng cấp cho các cá nhân để mua sắm hàng hóa tiêu dùng nhƣ xe hơi, nhà di động, trang thiết bị trong nhà. - Tín dụng cho các tổ chức tài chính: đây là các khoản tín dụng cấp cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính,.
- Cho thuê tài chính: đây là việc ngân hàng mua các trang thiết bị máy móc và cho thuê lại chúng. - Tín dụng khác: bao gồm các khoản tín dụng chƣa đƣợc phân loại ở trên (ví dụ: tín dụng kinh doanh chứng khoán,. * Căn cứ vào sự bảo đảm - Tín dụng không có sự bảo đảm là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba; sự cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng. - Tín dụng có tài sản đảm bảo là loại tín dụng mà khi cho vay, ngƣời cho vay đòi hỏi ngƣời vay vốn phải có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của ngƣời thứ ba.