Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC NĂNG LỰC GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học cơ sở và quan điểm tích hợp trong dạy học, giáo dục 1.1 Những nghiên cứu về giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học cơ sở GD PTNL là một xu hướng ra đời từ nhu cầu phát triển kinh tế. Sự phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với yêu cầu ngày càng cao về NL của người lao động đòi hỏi GD phải quan tâm đến việc PTNL nghề nghiệp cho người học trong các cơ sở GD nghề nghiệp.
Vào những năm 1970, trước xu thế toàn cầu hóa và yêu cầu về nguồn nhân lực cho hội nhập kinh tế quốc tế, GD theo tiếp cận PTNL được xem là cách thức để chuẩn bị cho nguồn nhân lực và GD tiếp cận PTNL trở thành một phong trào phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới như Úc, New Zealand, Anh,… [7, tr. Các nhà nghiên cứu như J. Boyatzid đi sâu nghiên cứu về mô hình DH PTNL, xác định những NL chung và NL riêng cho từng lĩnh vực cụ thể. Khẳng định vai trò của GD PTNL, Xavier Roegiers cho rằng: Nhà trường không chỉ đơn thuần cung cấp cho HS kiến thức mà còn phải giúp HS sử dụng được những kiến thức đó vào việc giải quyết các tình huống thực tiễn, hay chính là phải PTNL cho HS [27, tr.
Raija Roy Singh trong cuốn “Nền GD cho thế kỷ 21, những triển vọng ở Châu Á - Thái Bình Dương” [20, tr. 17] cũng đã nhấn mạnh nhiệm vụ của GD trong thế kỷ XXI, đó là GD ngoài việc truyền thụ tri thức còn phải hình thành và phát triển những NL phù hợp cho HS như NL suy luận, NL giải quyết vấn 6 đề, NL hợp tác trong tổ chức,…giúp HS giải quyết được những vấn đề trong cuộc sống. Trong các nghiên cứu chung về GD PTNL kể trên, NL giao tiếp và NL hợp tác được các nhà nghiên cứu đề cập đến như những NL cần phải phát triển cho người học. Trước yêu cầu làm việc nhóm, hợp tác quốc tế, một số nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu về NL hợp tác.
Trên cơ sở nghiên cứu về nhu cầu của con người, trong đó có nhu cầu hữu nghị, tình bạn, William Gelasser cho rằng, “trong hoạt động DH tại các nhà trường, sự thành công trong DH không chỉ ĐG ở phương diện thành tích học thuật mà còn phải tạo ra môi trường tích cực và tinh thần hợp tác xây dựng” [14, tr. Ông khẳng định quan hệ giữa người với người, sự hợp tác xây dựng góp phần lớn vào thành công học tập của người học Kurt Lewin, Morton Deutsch, Jonhson D.W trên lý thuyết động lực học, cho rằng khi con người tập hợp và làm việc vì mục đích chung sẽ tạo nên sức mạnh của sự đoàn kết và hợp tác (14, tr. Kurt Lewin còn đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách thức cư xử trong nhóm khi nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân chủ. Momton Deutsch đã xây dựng các tình huống đòi hỏi người học phải tăng cường sự hợp tác và cạnh tranh lành mạnh giữa HS với HS, giữa nhóm với nhóm qua đó thực hiện mục tiêu đề ra và từ đó đưa ra lý thuyết về các tình huống hợp tác và cạnh tranh.
Các tác giả trên cũng đã khẳng định, trong GD, PTNL hợp tác cho người học là biện pháp nâng cao hiệu quả GD trong nhà trường. Ở Việt Nam những năm gần đây, GD theo định hướng PTNL cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trong đó, GD NL GT&HT cũng được đề cập đến trong những nghiên cứu này. Trong nghiên cứu “DH theo định hướng hình thành và PTNL người học ở trường phổ thông” [26], Lê Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội đã xác định NL 7 giao tiếp và NL hợp tác là những NL nằm trong hệ thống NL chung cần hình thành và phát triển cho người học ở trường phổ thông.
Đồng thời, nhóm tác giả cũng đề xuất một số định hướng DH theo tiếp cận NL ở trường phổ thông. Tác giả Lê Thị Minh Hoa trong bài viết “PTNL hợp tác cho HS THCS” [10, tr. 28-30] đã trình bày khái niệm NL hợp tác, PTNL hợp tác, phân tích sự cần thiết PTNL hợp tác cho HS THCS và định hướng con đường PTNL hợp tác cho HS THCS. Trong một bài viết khác, tác giả Lê Thị Minh Hoa đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc PTNL hợp tác của HS THCS trong hoạt động GD ngoài giờ lên lớp như yếu tố chủ quan bao gồm đặc điểm sinh học, ý thức cá nhân, tính cách, sự hứng thú,…và các yếu tố khách quan như môi trường GD trong nhà trường, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp, gia đình, bạn bè,… [11, tr.
Tác giả Trần Thị Gái, Kiều Thị Kính, Ngô Thị Hoàng Vân trong bài viết “Thiết kế HĐTN thiên nhiên PTNL GT&HT cho HS cấp THCS” [8, tr. 40-45] đăng trên tạp chí GD đã trình bày những lý luận cơ bản về HĐTN thiên nhiên, NL GT&HT và đề xuất quy trình thiết kế HĐTN thiên nhiên theo chủ đề để PTNL hợp tác và giao tiếp. Từ những nghiên cứu trên cho thấy, GD PTNL là xu hướng của thời đại. Những nghiên cứu trên là cơ sở lý luận quan trọng cho hoạt động GD PTNL ở các trường phổ thông.
Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về về GD NL GT&HT cho HS THCS. Những nghiên cứu về quan điểm tích hợp trong dạy học, giáo dục Tích hợp trong DH, GD hay DHTH, GD tích hợp được coi như một quan điểm hay một PP, mô hình DH hiện đại được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng nhằm phát triển năng lực người học, cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu khai thác. trong nghiên cứu “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các NL ở nhà trường” [27] đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về khoa sư phạm tích hợp như khái niệm, PP, hình thức tích hợp PTNL người học trong các hoạt động GD và DH ở nhà trường 8 Tác giả Drake và Burns nghiên cứu về tích hợp chương trình DH đã đề xuất các mô hình DHTH theo hướng tích hợp đa môn; tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn [5, tr. Nhằm nâng cao chất lượng DH ở trường THCS, THPT, góp phần thực hiện đổi mới GD, Bộ GD&ĐT đã tổ chức biên soạn và tập huấn cho đội ngũ GV THCS, GV THPT về DHTH.
Tài liệu này đã cung cấp những lý luận cơ bản về DHTH ở THCS, THPT như khái niệm, bản chất, nguyên tắc, nội dung, PPDHTH, đồng thời hướng dẫn GV cách thức tổ chức DHTH ở các môn Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội [5]. Tác giả Võ Thị Tích và Phạm Thị Lan Phượng tại thảo khoa học “DHTH - DH phân hóa trong CTGDPT” do Bộ GD&ĐT tổ chức đã trình bày phân tích một số mô hình DHTH trên thế giới và đề xuất mô hình DHTH ở Việt Nam, trong đó có mô hình DHTH ở trường THCS [21]. Năm 2015, tác giả Đỗ Hương Trà xuất bản cuốn “DHTH PTNL HS, quyển 1 Khoa học Tự nhiên” [24]. Năm 2019, Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội xuất bản sách “DHTH PTNL HS” [25] gồm 2 cuốn.
Những tài liệu trên được biên soạn với mục đích hướng dẫn GV thực hiện DHTH trong nhà trường đáp ứng yêu cầu PTNL người học trong bối cảnh đổi mới GD. Vì vậy, ngoài những kiến thức cơ bản về DHTH theo hướng PTNL, các tác giả còn giới thiệu các chủ đề tích hợp theo các mức độ tích hợp khác nhau, giúp GV nắm rõ cách thực lựa chọn, xây dựng và thiết kế chủ đề tích hợp, từ đó vận dụng vào quá trình DHTH ở trường phổ thông. Có thể khẳng định rằng, DHTH là quan điểm DH phù hợp với định hướng PTNL người học. Những nghiên cứu về quan điểm tích hợp trong DH, GD là cơ sở quan trọng để CBQL và GV các trường THCS có căn cứ, định hướng để tổ chức hoạt động GD NL GT&HT cho HS THCS, đáp ứng yêu cầu của CTGDPT 2018 hiện nay.
Những nghiên cứu về quản lý giáo dục năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trung học cơ sở Có nhiều nghiên cứu được thực hiện về QL giáo dục năng lực GT&HT cho HS trên thế giới và Việt Nam. Có thể kể đến một số nghiên cứu trên thế giới: "Teaching Communication and Collaboration Skills to Undergraduate Computer Science Students" (Giảng dạy KN GT&HT cho SV ngành Khoa học máy tính) của J. "Fostering Social and Emotional Learning through Explicit Instruction and Cooperative Learning" (Tăng cường học KN xã hội và QL cảm xúc thông qua DH hợp tác) của J. "Cooperative Learning and Communication Competence in Preschoolers" (NL giao tiếp và học hợp tác của trẻ em trước tuổi học) của S.
Ở Việt Nam một số nghiên cứu tuy không trực tiếp nói về QL GD nhưng thông qua những nghiên cứu của mình các tác giả cũng bàn đến QL GD NL GT&HT cho HS. Có thể kể đến một số công trình như: "Xây dựng mô hình đào tạo KN giao tiếp cho SV đại học thông qua các hoạt động học tập thực tiễn" của H. "Nâng cao NL GT&HT của HS thông qua việc áp dụng PP học nhóm" của V. "Đào tạo KN hợp tác cho HS tiểu học thông qua việc áp dụng PP học tập nhóm" của H.
Có khá nhiều nghiên cứu khác liên quan đến QL GD NL GT&HT cho HS trên thế giới và Việt Nam. Trong những nghiên cứu về QL giáo dục năng lực GT&HT cho HS, các yếu tố QL thường được đề cập bao gồm: 10 Lập kế hoạch và tổ chức: QL GD cần lập kế hoạch cụ thể và tổ chức hoạt động một cách hợp lý để đảm bảo rằng các hoạt động đào tạo về GT&HT đáp ứng được các mục tiêu đào tạo và được triển khai một cách hiệu quả. Đào tạo và PTNL: QL GD cần cung cấp đầy đủ các tài liệu và nguồn lực đào tạo để GV có thể trang bị các KN, kiến thức và PP để giảng dạy KN GT&HT cho HS. Giám sát và ĐG hiệu quả: QL GD cần ĐG hiệu quả của các hoạt động đào tạo về GT&HT, thông qua các PP ĐG định kỳ, phản hồi từ các GV và HS, và sự tham gia của các bên liên quan khác.
Hỗ trợ và hướng dẫn: QL GD cần hỗ trợ và hướng dẫn các GV và HS để giúp họ phát triển các KN GT&HT.