phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực công chức phƣờng Chƣơng 2: Thực trạng năng lực công chức phƣờng thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức phƣờng thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC PHƢỜNG 1. Công chức phƣờng 1. Khái niệm công chức phường Để đƣa ra khái niệm về công chức phƣờng, trƣớc hết cần phải tìm hiểu quan niệm về công chức nói chung. Quan niệm về công chức đƣợc xác định lần đầu tiên tại Điều 1, mục 1, Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 về Quy chế công chức.
Theo đó, công chức là “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Hiện nay, khái niệm công chức đƣợc quy định tại điều 4, Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ban hành ngày 13/11/2008 nhƣ sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Khái niệm công chức trên đây đƣợc Luật cán bộ, công chức phân biệt với khái niệm công chức xã, phƣờng, thị trấn. Khoản 3, điều 4 Luật cán bộ, 10 công chức quy định: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Nhƣ vậy, có thể hiểu công chức phường là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND phường, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức phƣờng gồm có các chức danh: Chỉ huy trƣởng Quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trƣờng; Tài chính – kế toán; Tƣ pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội. Vị trí, vai trò của công chức phường Đội ngũ công chức phƣờng có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cơ sở nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng đƣợc quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ công chức cơ sở.
Công chức nói chung có vai trò rất quan trọng, công chức phƣờng nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở… Cơ sở mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lƣợng đội ngũ công chức phƣờng. Công chức phƣờng có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của UBND phƣờng. Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quản theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nƣớc ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hàng ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phƣơng. Họ còn có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cƣơng phép nƣớc tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con ngƣời, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thông qua hoạt động của đội ngũ công chức phƣờng, nhân dân thể hiện đƣợc quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình. Công chức phƣờng là cầu nối giữa Đảng, Nhà nƣớc với nhân dân, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong 11 công tác xây dựng Đảng. Họ vừa là ngƣời trực tiếp đem các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nƣớc giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là ngƣời phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nƣớc để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn. Thông qua họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất.
Đội ngũ công chức phƣờng còn là một trong những nguồn quan trọng cung cấp nguồn cho cán bộ các cấp. Bởi lẽ, cơ sở chính là môi trƣờng rèn luyện, giáo dục, tạo điều kiện cho cán bộ phấn đấu, tu dƣỡng và trƣởng thành. Thông qua hoạt động ở cơ sở, cán bộ đƣợc tích lũy và nâng cao kinh nghiệm thực tiễn, kiến thức, năng lực, phƣơng pháp, phong cách làm việc. Thực tế cho thấy, ở đâu công chức phƣờng có trình độ, có năng lực, có uy tín, nắm bắt kịp thời tâm tƣ guyện vọng của dân thì ở đó tình hình chính trị, xã hội ổn định, kinh tế, văn hóa phát triển, quốc phòng, an ninh đƣợc giữ vững.
Nói cách khác, công chức phƣờng có vai trò rất quan trọng, ảnh hƣởng trực tiếp đến việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị cơ sở, tác động trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nƣớc ta hiện nay. Đặc điểm công chức phường Công chức phƣờng mang đầy đủ những đặc điểm của công chức nói chung đó là: - Là công dân Việt Nam; - Đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, giữ chức vụ, chức danh và làm việc liên tục trong cơ quan Nhà nƣớc; - Trong biên chế, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc và các chế độ có liên quan theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do vị trí, vai trò của cấp cơ sở nên đội ngũ công chức phƣờng có những đặc điểm mang tính đặc thù nhƣ sau: Thứ nhất, đội ngũ công chức phƣờng là những ngƣời thực thi hoạt động công vụ ở cơ sở. Họ là ngƣời trực tiếp làm việc với ngƣời dân trên địa bàn 12 phƣờng.
Mọi đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc đều do đội ngũ công chức phƣờng phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành. Thứ hai, đội ngũ công chức phƣờng đƣợc nhà nƣớc đảm bảo những điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ. Họ đƣợc đảm bảo các quyền lợi vật chất và tinh thần nhƣ: hƣởng lƣơng, phụ cấp từ ngân sách nhà nƣớc, đƣợc khen thƣởng khi có thành tích, công lao xứng đáng, đƣợc nhận lƣơng hƣu khi đủ tuổi, đủ thời gian cống hiến cho nền công vụ. Thứ ba, công chức phƣờng hầu hết là ngƣời địa phƣơng, sinh sống tại địa phƣơng, có quan hệ dòng tộc và gắn bó mật thiết với nhân dân.
Họ là những ngƣời cƣ trú, sinh sống, gắn bó chặt chẽ với nhân dân địa phƣơng, có mối quan hệ trực tiếp với ngƣời dân, gia đình, họ tộc. Do đó, công chức phƣờng luôn chịu tác động của các mối quan hệ đan xen, phức tạp vừa là ngƣời đại điện cho quyền lực Nhà nƣớc tại địa phƣơng, vừa là ngƣời dân cùng phố, cùng họ tộc… Những mối quan hệ đó vừa thống nhất nhƣng cũng vừa mâu thuẫn và có ảnh hƣởng không nhỏ đến thực thi công vụ. Thứ tư, hoạt động công vụ của công chức phƣờng là một hoạt động đa dạng và phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện thƣờng xuyên và chuyên nghiệp. Phƣờng là nơi giải quyết trực tiếp các vấn đề của ngƣời dân, các vấn đề phải giải quyết thƣờng rất đa dạng, phức tạp do mỗi ngƣời dân có nhu cầu, hoàn cảnh, lợi ích khác nhau.
Vì vậy công chức phƣờng phải là những ngƣời có chuyên môn sâu, am hiểu thực tế và có kinh nghiệm giải quyết những tình huống khác nhau. Năng lực của công chức phƣờng sẽ góp phần quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính Nhà nƣớc ở địa phƣơng. Tiêu chuẩn, nhiệm vụ của công chức phường Tiêu chuẩn công chức là cơ sở để tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo bồi dƣỡng công chức. Tiêu chuẩn cũng là căn cứ để mỗi công chức yên tâm 13 làm việc theo chức trách đƣợc giao, xác định hƣớng phấn đấu, nâng cao trình độ và khả năng làm việc, là căn cứ để các cấp quản lý tạo điều kiện cho công chức có cơ hội đƣợc học tập, bồi dƣỡng.
Tiêu chuẩn, nhiệm vụ của công chức phƣờng đƣợc quy định tại Thông tƣ 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ ngày 30/10/2012 hƣớng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phƣờng, thị trấn. Cụ thể nhƣ sau: Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên; Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông; Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức đƣợc đảm nhiệm; Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chƣa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đƣợc phân công; Sau khi đƣợc tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dƣỡng quản lý hành chính nhà nƣớc và lớp đào tạo, bồi dƣỡng lý luận chính trị theo chƣơng trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm.