phần mở đầu, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, tài liệu tham khảo thì khóa luận gồm có 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Chƣơng 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng túi nhựa sang thị trường Nhật Bản của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Phú Lâm Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng túi nhựa sang thị trường Nhật Bản của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Phú Lâm 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2. Cơ sở lý luận về xuất khẩu và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm xuất khẩu Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu của con người tăng lên đã làm cho lĩnh vực sản xuất cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ. Với nhiều quốc gia trên thế giới do có những lợi thế khác biệt nên họ có khả năng sản xuất một loại sản phẩm nào đó với số lượng lớn và có thể đáp ứng được nhiều hơn cho tiêu dùng trong nước, đồng thời nhu cầu tiêu dùng hàng hóa của con người ngày càng đa dạng hơn do vậy giữa các quốc gia đã hình thành hoạt động trao đổi hàng hóa từ rất sớm.
Và một trong những hoạt động trao đổi đó ngày nay được gọi là xuất khẩu. Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất xuất khẩu chính là việc đưa hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện trao đổi và buôn bán. Xuất khẩu được xem là một trong những hình thức xâm nhập thị trường khá hiệu quả bởi ít chịu rủi ro và chi phí thực hiện thấp. Ngày nay, hoạt động xuất khẩu là một trong những hoạt động ngoại thương của có vai trò quan trọng đối với sự phát triển và sự sống còn của một quốc gia.
Đối với Việt Nam, theo Điều 28, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội ban hành quy định: Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Chủ thể tham gia xuất khẩu hết sức đa dạng có thể là cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hay chính phủ. Mỗi chủ thể tham gia xuất khẩu có một đặc điểm riêng phụ thuộc vào quy định về xuất khẩu của mỗi quốc gia cũng như từng loại mặt hàng và mục tiêu của các chủ thể. Thị trường xuất khẩu là thị trường nước ngoài có nhu cầu và tiềm năng tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm xuất khẩu này phải có khả năng cạnh tranh trên thị trường đó.
Do vậy, thị trường xuất khẩu cũng rất đa dạng tùy từng loại mặt hàng, tùy thuộc vào những mối quan hệ giữa các nước với nhau mà thị trường xuất khẩu cũng khác nhau. Vai trò của hoạt động xuất khẩu a. Đối với nền kinh tế quốc dân Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng của mỗi quốc gia, hằng năm hoạt động xuất khẩu đóng góp một phần không nhỏ và ngày càng tăng lên của tổng thu nhập quốc dân. Xu hướng ngày càng phát triển theo quy mô cả chiều rộng lẫn chiều sâu của các hoạt động kinh tế quốc tế giữa các quốc gia thì vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế ngày càng quan trọng, có thể nói hoạt động xuất khẩu là một nhân tố cơ bản thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia.
Thực tế đã chứng minh rằng hầu hết các quốc gia phát triển và có tiềm lực kinh tế mạnh trên thế giới đều là những quốc gia có nền ngoại thương năng động và sớm phát triển. Hoạt động xuất khẩu không những đem lại một nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia mà còn góp phần mở rộng giao lưu hợp tác giữa các quốc gia trên toàn thế giới. Xuất khẩu được xem là một yếu tố quan trọng giúp kích thích tăng trưởng nền kinh tế mỗi quốc gia. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân.
Khi xuất khẩu tăng lên sẽ có điều kiện phát triển quy mô sản xuất của ngành cũng như các ngành công nghiệp phụ trợ khác. Việc mở rộng quy mô, phát triển ngành cũng như các ngành khác sẽ có nhu cầu tăng thêm một số lượng lao động nhất định. Việc thu hút lao động vào sản xuất hàng xuất khẩu sẽ góp phần tích cực đến giải quyết công ăn việc làm cho người dân, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân. Xuất khẩu góp phần mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại, năng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Quan hệ ngoại giao là cơ sở cho các hoạt động thương mại phát triển trong đó có xuất khẩu. Việc thúc đẩy xuất khẩu giúp tăng cường hợp tác quốc tế và góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam. Đến nay, hàng hóa Việt Nam đã có mặt ở rất nhiều quốc gia trên thế giới và vị thế của hàng Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được mở rộng. Xuất khẩu còn tạo tiền đề để kinh tế, kỹ thuật đổi mới thường xuyên làm tăng năng suất sản xuất của mỗi quốc gia để phù hợp với tình hình, nhu cầu ngày càng tăng lên của nền kinh tế thế giới.
9 Bên cạnh đó, đẩy mạnh xuất khẩu có tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo ngành với xu hướng sử dụng có hiệu quả lợi thể so sánh của đất nước, đây là yếu tố then chốt trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Đối với doanh nghiệp Xuất khẩu không những có vai trò quan trọng với nền kinh tế quốc dân mà còn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi doanh nghiệp. Xuất khẩu là hoạt động mở đường cho một doanh nghiệp tham gia vào thị trường quốc tế. Nhờ xuất khẩu các doanh nghiệp xuất khẩu năm bắt được các cơ hội kinh doanh từ đó có thể tận dụng triệt để được cơ hội thị trường và có điều kiện nhanh chóng phát triển và kinh doanh xâm nhập thị trường khu vực và trên thế giới.
Bên cạnh đó nhờ xuất khẩu mà người tiêu dùng biết đến sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, lúc này việc các doanh nghiệp đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng sẽ dễ dàng hơn, sản phẩm được dễ dàng chấp nhận hơn. Ngoài ra, sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh đồng thời tạo ra nguồn vốn đề tiếp tục đầu tư vào sản xuất theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Hoạt động xuất khẩu sẽ là cánh cửa mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp. Họ không chỉ kinh doanh nội địa nữa mà còn bước ra thị trường quốc tế với nhiều tiềm năng và cơ hội tăng trưởng, phát triển.
Do vậy, cùng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa sâu rộng thì thúc đẩy xuất khẩu là hoạt động cần thiết và hết sức thiết thực. Các hình thức xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu được thực hiện dưới rất nhiều hình thức đa dạng và phong phú tùy theo từng loại mặt hàng và với từng thị trường, nhưng nó thường được thực hiện dưới một số hình thức chủ yếu sau đây: a. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của một quốc gia cho một quốc gia nước ngoài khác. Hình thức này dựa trên cơ sở quan hệ mua bán cơ bản là tiền – hàng và được giao dịch trực tiếp nên các bên tham gia luôn phát huy được khả năng của mình.
Mặt khác, các bên được quan hệ trực tiếp nên sẽ giảm được chi phí trung gian, các 10 bên được quan hệ trực tiếp nên có thể tự quyết định các vấn đề, nội dung mua bán cũng như có phản ứng linh hoạt trước sự biến động của thị trường hạn chế được các rủi ro. Tuy nhiên hình thức xuất khẩu trực tiếp cũng có những nhược điểm như về nghiệp vụ giao dịch, văn hóa, kinh nghiệm và tiếp cận thông tin. Hình thức xuất khẩu trực tiếp chủ yếu là thông qua việc mở các văn phòng đại diện để bán và giới thiệu sản phẩm. Hoặc là tiến hành đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để tận dụng các lợi thế đặc biệt của nước đó nhằm thu lợi nhuận.
Do vậy đây là hình thức xuất khẩu mang lại nhiều lợi nhuận nhất nhưng cũng chứa đựng rủi ro cao nhất. Xuất khẩu qua trung gian Xuất khẩu gián tiếp là hình thức hàng hóa của một quốc gia được bán cho nước ngoài thông qua trung gian. Hình thức xuất khẩu gián tiếp chủ yếu tận dụng lợi thế của các trung gian như kinh nghiệm, thông tin và tiết kiệm chi phí tìm hiểu thị trường. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của xuất khẩu gián tiếp là việc bị hạn chế tiếp xúc của nhà sản xuất và người tiêu dùng làm cho nhà xuất khẩu sẽ bị chậm thông tin về thị trường so với các đối thủ khác, điều này sẽ làm hạn chế khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh và có thể gây thiệt hại lớn khi nhà sản xuất không đưa ra được chiến lược kinh doanh, chiến lược xuất khẩu kịp thời và phù hợp để đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Bên cạnh đó, nhà xuất khẩu cũng phải bớt một phần lợi nhuận cho trung gian nên lợi nhuận thu được từ xuất khẩu của họ sẽ bị giảm xuống. Buôn bán đối lƣu Buôn bán đối lưu là một phương thức trao đổi hàng hóa trong đó hoạt động xuất khẩu được kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương đương với lượng hàng nhập về. Trong buôn bán đối lưu đồng tiền chỉ đóng vai trò cơ bản là chức năng tính toán chứ không sử dụng vai trò là chức năng thanh toán bởi mục đích của xuất khẩu ở đây không phải là nhằm thu về một khoản ngoại tệ, mà nhằm thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương. 11 Trong buôn bán đối lưu hàng hóa được trao đổi với nhau nên các bên tham gia chú trọng đến yêu cầu cân bằng.
Yếu tố cân bằng bao gồm: cân bằng về mặt hàng, cân bằng về giá cả, cân bằng về tổng giá trị hàng trao cho nhau và cân bằng về điều kiện giao hàng.