lời mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu sơ đồ, danh mục từ viết tắt. 7 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH MẶT HÀNG VẬT TƯ QUẢNG CÁO NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ XUẤT NHẬP KHẨU ADMART TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 2. Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh diễn ra trong hầu hết các lĩnh vực như kinh tế, chính trị và xã hội, vì vậy có nhiều các định nghĩa khác nhau về cạnh tranh xuất phát từ các quan điểm riêng biệt.
Theo Michael Porter (1980). Cạnh tranh trong kinh doanh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua đấu tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản để chiếm lĩnh những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, thu lợi nhuận siêu ngạch. Quan điểm này coi cạnh tranh là sự quyết định, thực hiện và phân phối giá trị thặng dư giữa những người sản xuất với nhau và giữa họ với người tiêu dùng. Cạnh tranh được diễn ra trên ba góc độ: cạnh tranh giá cả thông qua tăng năng suất lao động ; cạnh tranh chất lượng sản phẩm thông qua giá trị sử dụng của hàng hóa; cạnh tranh giữa các ngành thông qua lợi nhuận. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) (1995).
Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thu và thị trường có lợi nhất. Theo Đoàn Hùng Nam (tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời kỳ hội nhập - 2018). Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật 8 những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để thu được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc tranh đua là tối đa hóa lợi ích đối với doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Trong kinh tế học, chưa có một định nghĩa nào về cạnh tranh có thể thỏa mãn hoàn toàn các nhà nghiên cứu do tính phức tạp và đa chiều của khái niệm này. Tuy nhiên, nhìn chung, cạnh tranh có thể được hiểu là quá trình tranh đua giữa các chủ thể kinh tế, bao gồm nhà sản xuất, phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng và thương nhân. Mục đích là giành được các lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hoặc các lợi ích kinh tế khác nhằm tối đa hóa lợi nhuận và lợi ích của mình. Khái niệm năng lực cạnh tranh Với cách tiếp cận kinh tế vĩ mô, năng lực cạnh tranh là một khái niệm quan trọng đối với các doanh nghiệp và nhà quản lý khi xây dựng chiến lược phát triển.
Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có sự thống nhất chung về định nghĩa của năng lực cạnh tranh. Theo quan điểm của Michael Porter, năng lực cạnh tranh thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra, duy trì và phát triển các lợi thế để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, dịch vụ, từ đó giúp doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường, đạt tới lợi nhuận cao và tăng trưởng bền vững. Một số ý kiến cho rằng doanh nghiệp có thể đạt được sự phát triển lâu dài bằng cách đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng quy mô. Năng lực cạnh tranh có thể hiểu là lợi thế của đơn vị kinh doanh so với đối thủ cạnh tranh về việc làm, tạo ra sản phẩm hàng hóa, tập trung lực lượng lao động dồi dào, thu nhập cao hơn so với các đơn vị kinh doanh khác trên cùng thị trường vào cùng thời điểm.
Năng lực cạnh tranh chính là kim chỉ nam để doanh nghiệp tạo ra động lực tốt nhất thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội và có thể hiểu là yếu tố quan trọng khẳng định hiệu quả công việc và năng suất lao động trong nền kinh tế. Tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh đối với sự thành công của doanh nghiệp thể hiện qua các khía cạnh: 9 - Động lực để doanh nghiệp tồn tại: Trong một thị trường đầy biến động, cạnh tranh không ngừng thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến để không bị lạc hậu. - Thúc đẩy đổi mới và phát triển: Cạnh tranh khuyến khích doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng quy mô và tăng tính chuyên nghiệp. - Đạt được mục tiêu kinh doanh: Từng giai đoạn khác nhau yêu cầu các chiến lược khác nhau để doanh nghiệp phát triển và đạt được các mục tiêu đề ra nhanh hơn.
Cạnh tranh không chỉ là yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển toàn diện. Các cấp độ năng lực cạnh tranh Có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ khác nhau với hai phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh phổ biến nhất được các quốc gia và tổ chức kinh tế quốc tế sử dụng. Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu; phương pháp thứ hai do Viện Phát triển Quản lý Quốc tế (IMD) đề xuất trong cuốn Niên giám năng lực cạnh tranh thế giới (WCY). Cả hai phương pháp này đều xem xét theo 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ.
Năng lực cạnh tranh quốc gia Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng tạo dựng một môi trường kinh tế phát triển bền vững, tối ưu hóa việc phân bổ các nguồn lực nhằm duy trì và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Đơn giản hơn, năng lực cạnh tranh quốc gia có thể được hiểu là khả năng đạt được và duy trì sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian. Năng lực cạnh tranh ngành Năng lực cạnh tranh ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. Kết quả của cuộc cạnh tranh này là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất hàng hóa.
Năng lực cạnh tranh của ngành phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố: 10 - Nhóm yếu tố do ngành tự quyết định bao gồm chiến lược phát triển ngành, sản phẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ, đầu tự nghiên cứu công nghệ và phát triển sản phẩm, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng,. - Nhóm các yếu tố do Chính phủ quyết định, tạo ra môi trường kinh doanh bao gồm: thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái, chi ngân sách cho hoạt động R&D, hệ thống luật pháp điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia thị trường,. - Nhóm các yếu tố mà Chính phủ và ngành chỉ quyết định được một phần như: nguyên liệu đầu vào, nhu cầu của người tiêu dùng, môi trường thương mại quốc tế,. - Nhóm các yếu tố hoàn toàn không thể quyết định được như: môi trường tự nhiên, quy luật kinh tế,.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được hiểu là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt mục tiêu về lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp thể hiện qua khả năng sinh lời của đồng vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Đa số năng lực cạnh tranh ở cấp độ này được thể hiện qua khả năng lợi nhuận, chi phí, năng suất sản xuất và thị phần. Các yếu tố tác động vào năng lực này là quản trị nhân lực, tài chính, phòng kinh doanh, những kiến thức về mặt công nghệ, khả năng lường trước được nhu cầu của thị trường.
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cụ thể như sau: - Năng suất lao động: Được xác định dựa trên sản lượng và giá trị tạo ra trong một thời gian, phụ thuộc vào đào tạo nhân lực, trình độ quản lý, và phát triển công nghệ. - Thị phần: Phản ánh mức độ chiếm lĩnh của doanh nghiệp trên thị trường, là yếu tố quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh. - Thương hiệu: Các sản phẩm, dịch vụ có thương hiệu uy tín được chú ý và lan truyền mạnh mẽ, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh. 11 - Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận: Cho thấy hiệu quả sử dụng vốn, với lợi nhuận cao phản ánh năng lực cạnh tranh mạnh hơn.
Những yếu tố này giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, thu hút khách hàng, và cải thiện vị thế so với các đối thủ cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng vượt trội so với đối thủ, giúp sản phẩm tiêu thụ nhanh chóng trên thị trường. Điều này phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, dịch vụ đi kèm, tốc độ cung ứng, uy tín thương hiệu, và các yếu tố khác như kiểu dáng, tính năng độc đáo. Một sản phẩm có năng lực cạnh tranh khi đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng về cả định tính (chất lượng, mẫu mã, thương hiệu) và định lượng (giá thành, thị phần, doanh thu).
Các chỉ tiêu đánh giá cơ bản gồm: giá cả, chất lượng, hệ thống phân phối và uy tín doanh nghiệp. Chỉ tiêu cụ thể chia thành: - Định lượng: Thị phần, doanh thu, sản lượng, và mức chênh lệch giá so với đối thủ. - Định tính: Chênh lệch chất lượng, mẫu mã, và hình ảnh thương hiệu so với đối thủ. Nhìn chung, sản phẩm nhập khẩu có năng lực cạnh tranh khi vượt trội hơn cả về định lượng lẫn định tính so với các sản phẩm nội địa cùng loại.
Một số lý thuyết về hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng nhập khẩu của doanh nghiệp 2.