Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khoa học cấp Bộ "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (Mã số: 2000-98-083) do TS. Nguyễn Ngọc Hiến làm chủ nhiệm, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia thuộc Bộ Nội vụ và nghiệm thu năm 2003. Công trình nghiên cứu này được triển khai trong bối cảnh công cuộc Đổi mới kinh tế tại Việt Nam, khởi xướng từ cuối năm 1986, đã bước sang giai đoạn phát triển chiều sâu đòi hỏi sự tương thích của hệ thống thể chế quản lý nhà nước về tài chính vĩ mô.

Từ giữa thập niên 1980, việc đổi mới quản lý tài chính công đã bắt đầu được nghiên cứu nhằm từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp, phân phối nguồn lực khan hiếm hiệu quả hơn. Luật Ngân sách nhà nước ban hành năm 1996 cùng hệ thống luật thuế giai đoạn II (hình thành cuối thập niên 1980 và sửa đổi trong thập niên 1990) đã tạo hành lang pháp lý ban đầu thúc đẩy sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, tăng chi đầu tư phát triển và kiểm soát bội chi. Tuy nhiên, sau một giai đoạn thi hành, hệ thống thể chế bộc lộ nhiều điểm nghẽn:

  • Chính sách thuế chưa bao quát toàn diện các nguồn thu, tình trạng thất thu thuế, nợ thuế và khê đọng thuế còn lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến năng lực động viên tài chính quốc gia.
  • Quản lý và sử dụng nguồn tài chính nhà nước còn lãng phí, phân tán, dàn trải trên nhiều mục tiêu; tư tưởng bao cấp chưa được giải quyết triệt để.
  • Mối quan hệ tài chính giữa trung ương và địa phương trong phân cấp ngân sách chưa thực sự tối ưu, đòi hỏi Quốc hội phải đưa việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước và các luật thuế vào chương trình lập pháp thời kỳ 2002–2003.

Từ bối cảnh thực tiễn trên, mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Nghiên cứu hệ thống lý luận cơ bản về tài chính công, bao gồm bản chất, đặc điểm, vai trò và chức năng của tài chính công trong nền kinh tế thị trường.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính công ở Việt Nam qua các giai đoạn, trọng tâm là thời kỳ 1991–2002.
  3. Đề xuất hệ thống quan điểm, nguyên tắc và giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường quản lý tài chính công phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  • Đối tượng nghiên cứu: Tài chính công dưới giác độ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào các khía cạnh lý luận và thực tiễn của hai hoạt động trụ cột trong tài chính công là đánh thuế (thu ngân sách) và chi tiêu ngân sách nhà nước trong điều kiện chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam; phạm vi dữ liệu và thực tiễn khảo sát tập trung vào giai đoạn 1991–2002.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về cơ sở lý thuyết, đề tài tiếp cận tài chính công qua hai lăng kính: một bộ môn khoa học kinh tế học công cộng và một cấu phần của tài chính quốc gia. Công trình hệ thống hóa các trường phái tư tưởng kinh tế học tiêu biểu:

  • Trường phái Cổ điển và Tân cổ điển: Phân tích luận điểm "bàn tay vô hình" của Adam Smith (Của cải của các dân tộc, 1776), trường phái trọng thương (William Petty, Boisguillebert, Quesnay, Turgot) và các đại diện thế kỷ 19 (J.S. Mill, Nassau Senior), với nguyên tắc thị trường tự điều chỉnh và "ngân sách tốt nhất là ngân sách cân bằng".
  • Học thuyết Keynes: Phân tích lý thuyết của John Maynard Keynes ra đời sau cuộc đại khủng hoảng 1929–1933, chỉ ra các nguyên nhân thất bại thị trường (độc quyền, hàng hóa công cộng, ngoại tác, bất đối xứng thông tin), xây dựng mô hình số nhân chi tiêu và chứng minh vai trò can thiệp của chính phủ bằng chính sách tài khóa để kích cầu, giải quyết việc làm.
  • Lý thuyết của Richard Musgrave: Mở rộng vai trò của tài chính công vượt khỏi mục tiêu ổn định ngắn hạn, xác lập 3 chức năng cốt lõi: phân bổ nguồn lực (cung cấp hàng hóa công, khắc phục ngoại tác), phân phối (điều chỉnh phân phối thu nhập và tài sản công bằng) và ổn định kinh tế vĩ mô (duy trì việc làm, ổn định giá cả).
  • Lý thuyết kinh tế học hiện đại: Mô hình kinh tế hỗn hợp cân bằng giữa thị trường và chính phủ, vận dụng các công cụ phân tích chuẩn mực như tiêu chuẩn tối ưu Pareto (đường cong giới hạn khả năng và lợi ích) và đường cong Lorenz để đánh giá phân phối công bằng sau thuế và trợ cấp.

Đồng thời, đề tài tổng hợp các quan điểm học thuật quốc tế (Christopher Pass, Bryan Lowes, Leslie Davies; Harvey S. Rosen; Joseph E. Stiglitz; Haveman & John Bascom) và trong nước (PTS. Nguyễn Ngọc Hùng, PGS. Đỗ Văn Thành, PGS. Lê Thế Tường, Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội) để làm rõ tiêu chí phân định giữa tài chính công và tài chính nhà nước:

Tiêu chí phân biệt Tài chính công Tài chính nhà nước
Nguồn thu Gắn liền với các khoản thu ngân sách nhà nước thông qua thuế, phí, lệ phí và tín dụng nhà nước mang tính bắt buộc và cưỡng chế. Bao gồm cả nguồn thu ngân sách nhà nước và các nguồn thu của các quỹ ngoài ngân sách (quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí, quỹ hỗ trợ đầu tư...).
Mục tiêu hoạt động Hoàn toàn phi lợi nhuận, không gắn với các hoạt động mang tính kinh doanh thu lợi nhuận. Bao gồm cả hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận tại các doanh nghiệp nhà nước.
Nhiệm vụ chi tiêu Phục vụ trực tiếp việc thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội (hàng hóa công cộng, bộ máy hành chính, quốc phòng, an ninh). Phục vụ chức năng nhà nước và cung ứng hàng hóa, dịch vụ thông thường của doanh nghiệp nhà nước.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp các học thuyết kinh tế vĩ mô, các giáo trình, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước.
  • Phương pháp thu thập số liệu: Tập hợp các chỉ tiêu kinh tế - tài chính, báo cáo ngân sách nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan (Luật Ngân sách nhà nước 1996, các luật thuế).
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý thông tin thực tiễn để đánh giá thành tựu và hạn chế của cơ chế quản lý thu - chi qua từng thời kỳ.
  • Phương pháp thống kê: Phân tích cơ cấu và xu hướng biến động của các khoản thu, chi ngân sách, nợ chính phủ.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia quản lý kinh tế, tài chính tại các bộ, ngành và cơ sở đào tạo.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về tài chính công và quản lý tài chính công

Chương này tập trung xác lập cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ đề tài:

  • Bản chất và khái niệm: Xác định tài chính công là các hoạt động thu và chi bằng tiền của Nhà nước, phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước đối với xã hội. Cơ cấu tài chính công gồm: ngân sách nhà nước từ trung ương đến địa phương; tài chính cơ quan hành chính nhà nước; tài chính đơn vị sự nghiệp nhà nước.
  • Đặc điểm, vai trò và chức năng: Nêu bật 4 đặc điểm cốt lõi (gắn với sở hữu công cộng; Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định; tính công cộng; kết hợp tính bồi hoàn - không bồi hoàn, bắt buộc - tự nguyện). Xác định 4 chức năng kinh tế: phân bổ nguồn lực tối ưu theo nguyên lý Pareto, phân phối thu nhập công bằng thông qua điều tiết bằng đường cong Lorenz, ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng.
  • Lý luận về quản lý tài chính công: Phân tích quản lý tài chính công như một hoạt động tất yếu của Nhà nước dựa trên 4 đặc trưng: quản lý bằng pháp luật và kế hoạch; coi trọng biện pháp tổ chức - hành chính; kết hợp yếu tố con người và yếu tố tài chính; bảo đảm sự thống nhất giữa mặt giá trị và hiện vật (giá trị sử dụng).
  • Quan điểm, công cụ và tổ chức bộ máy: Nêu rõ 4 quan điểm chỉ đạo (phục vụ chính trị; thúc đẩy phát triển và ổn định xã hội; phát huy nội lực; tiết kiệm hiệu quả). Thiết lập hệ thống 5 nhóm công cụ quản lý: pháp luật; kế hoạch hóa; chính sách kinh tế vĩ mô; hệ thống thanh tra, kiểm tra, kế toán, kiểm toán; hệ thống tổ chức bộ máy. Phân định thẩm quyền quản lý tài chính công từ Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước đến chính quyền địa phương và các đơn vị dự toán.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Đúc kết các bài học quản lý tài chính công, cải cách thuế và kiểm soát chi tiêu công từ các nước trong khu vực và trên thế giới.

Chương II: Thực trạng quản lý tài chính công ở nước ta thời gian qua

Chương này đánh giá tiến trình vận động của tài chính công Việt Nam qua các mốc phát triển:

  • Quản lý tài chính công trước thời kỳ Đổi mới: Phân tích cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp bằng hiện vật; nguồn lực ngân sách hạn hẹp nhưng phải bao cấp cho toàn bộ nền kinh tế, dẫn đến bỏ sót và triệt tiêu nhiều nguồn lực trong xã hội.
  • Khái quát quản lý thời kỳ Đổi mới: Trình bày bước chuyển chiến lược từ cuối năm 1986, đánh dấu sự ra đời của cơ chế tài chính thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu lại ngân sách và thiết lập khuôn khổ pháp lý mới.
  • Thực trạng quản lý thu NSNN (1991–2001): Khảo sát kết quả cải cách thuế bước II, mở rộng diện thu, đánh giá mức độ huy động nguồn lực trong nước (thuế, phí) so với nhu cầu chi tiêu quốc gia.
  • Thực trạng chi NSNN (1991–2001): Phân tích cơ cấu chuyển dịch giữa chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển; kết quả phân bổ kinh phí cho các chương trình mục tiêu quốc gia (xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, hạ tầng); vai trò kiểm soát chi của hệ thống Kho bạc Nhà nước.
  • Đánh giá thực trạng nợ Chính phủ: Xem xét thực trạng huy động vốn vay trong nước và ngoài nước, cơ chế phân bổ vốn vay cho đầu tư phát triển và năng lực cân đối nghĩa vụ trả nợ, duy trì mức bội chi ngân sách hợp lý quanh mức 3% GDP.
  • Hạn chế giai đoạn 1991–2002: Chỉ rõ các tồn tại mang tính hệ thống gồm: Luật Ngân sách nhà nước 1996 và hệ thống thuế cũ bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp; chính sách thuế chưa bao quát hết nguồn thu; tình trạng thất thu, trốn thuế, nợ thuế lớn; quản lý chi tiêu còn lãng phí, phân tán, dàn trải; cơ chế phân cấp ngân sách chưa tạo đủ quyền chủ động cho địa phương; cơ chế kiểm soát chi chưa chuyển biến kịp so với thực tiễn.

Chương III: Các giải pháp tăng cường quản lý tài chính công trong thời gian tới

Chương này xây dựng hệ thống giải pháp cải cách hành chính và thể chế tài chính:

  • Mục tiêu và nguyên tắc đổi mới: Đưa ra mục tiêu làm cho bộ máy hành chính hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tạo động lực để cơ quan hành chính - sự nghiệp chủ động sắp xếp biên chế, tinh gọn bộ máy; nâng cao ý thức thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí.
  • Tăng cường quản lý thuế: Rà soát, sửa đổi hệ thống luật thuế bảo đảm tính công bằng, nuôi dưỡng nguồn thu, giảm thủ tục phiền hà, tăng cường thanh tra chống thất thu và xử lý nợ đọng thuế.
  • Hoàn thiện chính sách chi tiêu Chính phủ: Kiểm soát chặt chẽ chi thường xuyên, quán triệt nguyên tắc chi tiêu dùng không được vượt quá nguồn thu từ thuế và phí; tuyệt đối không sử dụng nguồn vay nợ cho chi tiêu dùng mà chỉ dành riêng cho đầu tư phát triển; xây dựng hệ thống định mức chi tiêu khoa học.
  • Đổi mới phân cấp ngân sách và hoàn thiện hệ thống NSNN: Điều chỉnh thẩm quyền của Quốc hội theo hướng thông qua tổng số thu, chi và chỉ tiêu chi tiết theo từng lĩnh vực; Hội đồng nhân dân các cấp quyết định ngân sách cấp mình; nâng cao tính độc lập, tự chủ ngân sách của địa phương nhưng vẫn bảo đảm tính tập trung thống nhất của ngân sách trung ương.
  • Hoàn thiện quy trình quản lý và cơ chế tự chủ: Chuyển phương thức quản lý kinh phí và biên chế hành chính từ "quản lý đầu vào" sang "quản lý sản phẩm đầu ra"; triển khai cơ chế tự bảo đảm chi phí đối với đơn vị sự nghiệp dịch vụ công (giáo dục, y tế...) thông qua phương thức Nhà nước đặt hàng mua sản phẩm theo chất lượng và tiến độ; mở rộng kiểm toán ngân sách theo hướng bắt buộc và củng cố tính độc lập tương đối của Kiểm toán Nhà nước.
  • Khuyến khích đầu tư: Kết hợp ngân sách nhà nước với việc huy động các nguồn lực xã hội hóa; khuyến khích dân cư tiết kiệm để đầu tư phát triển sản xuất hàng nội địa và hàng xuất khẩu có giá trị cao.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp khoa học cụ thể:

  1. Chuẩn hóa nhận thức lý luận: Phân định rạch ròi giữa hai khái niệm "tài chính công" và "tài chính nhà nước" dựa trên 3 tiêu chí bản chất (nguồn thu, mục tiêu lợi nhuận, phạm vi nhiệm vụ chi). Đề tài chỉ rõ cơ sở lý luận kết hợp giữa các nguyên lý kinh tế học thị trường (Keynes, Musgrave, Pareto, Lorenz) với bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  2. Đánh giá thực trạng khách quan: Chỉ rõ những rào cản thể chế của hệ thống pháp luật tài chính giai đoạn 1991–2002; nhận diện các điểm yếu trong phân cấp ngân sách, cơ cấu chi tiêu dàn trải và tình trạng thất thu thuế do khuôn khổ Luật Ngân sách nhà nước 1996 và các luật thuế cũ chưa theo kịp chuyển dịch kinh tế.
  3. Đề xuất giải pháp quản lý mang tính cải cách hành chính:
    • Đề xuất chuyển dịch phương thức phân bổ ngân sách từ kiểm soát đầu vào (biên chế, định mức hành chính) sang quản lý kết quả đầu ra (sản phẩm, dịch vụ công).
    • Đề xuất mô hình Nhà nước đặt mua dịch vụ công đối với các đơn vị sự nghiệp thay cho cơ chế cấp phát bình quân, mở đường cho cơ chế tự chủ tài chính công.
    • Kiến nghị sửa đổi thẩm quyền quyết định ngân sách của Quốc hội và Hội đồng nhân dân theo hướng quyết định tổng thể và cơ cấu lĩnh vực; mở rộng chế độ kiểm toán bắt buộc và thiết lập cơ chế độc lập tương đối cho Kiểm toán Nhà nước.
  4. Đóng góp vào tiến trình lập pháp: Luận điểm và số liệu tổng kết của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp đóng góp vào quá trình xây dựng, sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước (được Quốc hội thông qua năm 2002, có hiệu lực từ năm ngân sách 2004) và chương trình cải cách hệ thống thuế bước III tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài chỉ tiếp cận tài chính công thuần túy dưới giác độ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước, giới hạn phạm vi nghiên cứu vào hoạt động thu thuế và chi tiêu ngân sách nhà nước. Các cấu phần tài chính công ngoài ngân sách như tài chính của hệ thống an sinh xã hội, các quỹ tiền tệ dự trữ quốc gia, hay cơ chế quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp chưa được khảo sát chi tiết. Mặt khác, các phân tích thực trạng và số liệu của công trình bị giới hạn trong khung khổ giai đoạn 1991–2002.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục đánh giá tác động thực thi sau khi Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi đi vào đời sống; nghiên cứu chuyên sâu về mô hình giao quyền tự chủ hoàn toàn cho các đơn vị sự nghiệp công lập; hoàn thiện khung pháp lý về quản trị nợ công quốc gia và cơ chế giám sát độc lập của cơ quan Kiểm toán Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Giá trị tham khảo

Báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn:

  • Về đối tượng: Tài liệu hữu ích đối với cán bộ, công chức làm công tác tham mưu chính sách tài chính - ngân sách tại Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Kho bạc Nhà nước, cơ quan Kiểm toán Nhà nước và cơ quan tài chính các cấp; giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý hành chính công, Quản lý kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Luật Kinh tế.
  • Về nội dung: Phần hệ thống hóa lý thuyết kinh tế học công cộng và tiêu chí phân biệt tài chính công với tài chính nhà nước tại Chương I là tài liệu tham khảo chuẩn mực phục vụ giảng dạy môn học Quản lý tài chính công. Các đề xuất cải cách phương thức quản lý chi ngân sách theo kết quả đầu ra và phân cấp ngân sách tại Chương III cung cấp luận cứ thực tiễn cho các nghiên cứu về cải cách hành chính công.

Câu hỏi thường gặp

1. Đề tài phân biệt "tài chính công" và "tài chính nhà nước" dựa trên những đặc trưng căn bản nào?
Tác giả phân biệt hai khái niệm qua 3 đặc trưng: (1) Tài chính công gắn với các hoạt động tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước qua thuế, phí và tín dụng nhà nước mang tính bắt buộc, trong khi tài chính nhà nước bao gồm cả các quỹ tài chính ngoài ngân sách; (2) Tài chính công hoàn toàn không phục vụ mục tiêu kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, còn tài chính nhà nước bao hàm cả hoạt động kinh doanh sinh lời của doanh nghiệp nhà nước; (3) Chi tiêu tài chính công phục vụ các chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội (hàng hóa công cộng), trong khi tài chính nhà nước bao gồm cả chi tiêu cung ứng hàng hóa, dịch vụ thông thường tại doanh nghiệp nhà nước.

2. Đề tài đã vận dụng những học thuyết kinh tế học nào để giải thích sự cần thiết của quản lý tài chính công?
Công trình vận dụng học thuyết của Adam Smith về bàn tay vô hình và ngân sách cân bằng; học thuyết của John Maynard Keynes về khắc phục các thất bại thị trường (độc quyền, ngoại tác, hàng hóa công cộng, bất đối xứng thông tin) thông qua chính sách tài khóa và mô hình số nhân; lý thuyết của Richard Musgrave về 3 chức năng của tài chính công (phân bổ, phân phối, ổn định); cùng các công cụ kinh tế học hiện đại như tối ưu hóa Pareto và đường cong Lorenz để đánh giá hiệu quả và công bằng xã hội.

3. Bốn quan điểm cơ bản trong quản lý tài chính công được đề tài xác định là gì?
Đề tài xác lập 4 quan điểm chỉ đạo bao gồm: (1) Quan điểm phục vụ chính trị (bảo đảm tài chính cho sự lãnh đạo của Đảng, sức mạnh quản lý của Nhà nước, củng cố quốc phòng - an ninh); (2) Quan điểm thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định xã hội (khai thác tiềm năng, cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước); (3) Quan điểm phát huy nội lực (bảo vệ tài nguyên, nuôi dưỡng nguồn lực trong dân, kết hợp nguồn lực nhà nước với xã hội hóa); (4) Quan điểm tiết kiệm có hiệu quả (loại bỏ chi tiêu không hiệu quả, quán triệt chi thường xuyên không vượt quá thu thuế, phí, vốn vay chỉ dùng cho đầu tư phát triển).

4. Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp được đề xuất ra sao?
Tác giả đề xuất chuyển đổi phương thức quản lý từ kiểm soát yếu tố đầu vào (quản lý số lượng biên chế và cấp phát kinh phí định mức) sang phương thức quản lý theo sản phẩm đầu ra nhằm khuyến khích tiết kiệm ngân sách. Đối với đơn vị dịch vụ công lập (giáo dục, y tế), đề tài kiến nghị thử nghiệm cơ chế tự bảo đảm chi phí thường xuyên, Nhà nước chuyển từ cấp kinh phí hoạt động sang phương thức đặt hàng mua sản phẩm dịch vụ công theo chất lượng và tiến độ.

5. Hệ thống công cụ quản lý tài chính công của Nhà nước bao gồm những thành tố nào?
Đề tài xác định hệ thống công cụ quản lý tài chính công gồm 5 nhóm chính: (1) Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định chuẩn mực hoạt động; (2) Công cụ kế hoạch hóa (đặc biệt là kế hoạch ngân sách nhà nước); (3) Hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô điều tiết thu - chi; (4) Hệ thống thanh tra, kiểm tra, kế toán và kiểm toán nhà nước; (5) Hệ thống tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý tài chính công.

Kết luận

Đề tài khoa học "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (Mã số: 2000-98-083) của TS. Nguyễn Ngọc Hiến là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận, phương pháp luận và thực tiễn quản lý tài chính công trong thời kỳ đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của tài chính công, đánh giá khách quan các thành tựu và nút thắt thể chế giai đoạn 1991–2002, từ đó xác lập hệ thống giải pháp cải cách đồng bộ từ cơ chế thu thuế, cơ cấu chi tiêu đến đổi mới phân cấp và thủ tục quản lý ngân sách. Các luận điểm của đề tài mang giá trị khoa học vững chắc, phản ánh trung thực yêu cầu của thực tiễn quản lý nhà nước và đóng góp trực tiếp vào tiến trình cải cách pháp luật tài chính công của Việt Nam đầu thế kỷ 21.