phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 4 chương, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về đầu tƣ nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 3: Thực trạng đầu tƣ nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng thƣơng mại TMCP Á Châu Chi nhánh Nghệ An giai đoạn 2011 - 2015 Chƣơng 4: Giải pháp đầu tƣ nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng thƣơng mại TMCP Á Châu Chi nhánh Nghệ An” 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Qua quá trình tìm hiểu thực tế và tra cứu tại các thư viện, các website cho thấy trong thời gian gần đây rất nhiều các nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, phản ánh đúng tầm quan trọng và cấp thiết của vấn đề. Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu, điển hình một số đề tài của các tác giả như sau: - Tác giả Vũ Thanh Nga với “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH thương mại VIC tại thị trường hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh” (2007).“Đề tài đã tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng đầu tư năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thương Mại VIC tại thị trường hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, để từ đó đánh giá được kết quả và hiệu quả sau khi đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh, cuối cùng là tìm ra những giải pháp giúp cho quá trình đầu tư nâng cao năng lực tại công ty đạt hiệu quả cao.” - Tác giả Nguyễn Việt Phương với “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ phần xây dựng số 7” (2010).“Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh và đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty cổ phần xây dựng số 7, qua đó đánh giá được kết quả sau quá trình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh. Từ đó tìm ra những giải pháp giúp cho quá trình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty đạt hiệu quả cao hơn. Giúp cho công ty nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường.” “Đối với ngân hàng, năng lực cạnh tranh là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng quyết định đến sự thành công trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Chính về thế, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong ngân hàng luôn được chú trọng. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại các NHTMCP, điển hình một số đề tài của các tác giả sau:” 5 - Tác giả Phạm Văn Tuấn với “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại NH TMCP Ngoại thương chi nhánh Hà Nội” (2009).“Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích năng lực cạnh tranh tại NH TMCP Ngoại thương chi nhánh Hà Nội, từ đó rút ra được sự cần thiết đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại chi nhánh. Qua đó tác giả đưa ra một số giải pháp giúp quá trình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại chi nhánh đạt hiệu quả hơn.” - Tác giả Trần Hà Trang với “Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại NH Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Nghệ An giai đoạn 2003 – 2015” (2009).“Đề tài tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông chi nhánh Nghệ An giai đoạn 2003 – 2009, từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả trong đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh giai đoạn 2010 – 2015.” Các tác giả đã có những phân tích thực nghiệm về năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong xu thế hội nhập. Từ việc thu thập, phân tích số liệu cụ thể qua nhiều năm của các ngân hàng, các tác giả đã có các kết luận, đánh giá cả định tính và định lượng về”thực trạng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.” Như vậy, mặc dù các nghiên cứu có giá trị và ý nghĩa thiết thực trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của NHTM nhưng do điều kiện kinh tế luôn luôn thay đổi, đặt các nghiên cứu trên trong bối cảnh hiện tại sẽ không tránh khỏi một số hạn chế: -“Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM chưa phản ánh đầy đủ, phù hợp với tính chất của một ngân hàng hiện đại, xu thế phát triển hiện nay của NHTM Việt Nam.” - Các tiêu chí đưa ra nhiều nhưng riêng rẽ, chưa có đánh giá tổng quát vị thế cạnh tranh của một ngân hàng so với các ngân hàng còn lại vì năng lực cạnh tranh, vị thế cạnh tranh của mỗi ngân hàng đạt được là do sự kết hợp của nhiều tiêu chí khác nhau.
- Các đánh giá đa phần mang tính chủ quan, thiếu kết quả khảo sát thực tế từ khách hàng - là đối tượng có đánh giá khách quan về năng lực cạnh tranh của ngân 6 hàng và phản ánh đúng nhất sự phù hợp của năng lực cạnh tranh ngân hàng đối với xu hướng thị trường. - Đối với các nhân tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh, đa phần các nghiên cứu mới chỉ quan tâm đến các nhân tố nội tại còn việc phân tích nguồn gốc làm nên các nhân tố đó không được phân tích, lượng hoá một cách cụ thể, khoa học. Các nghiên cứu chưa phân tích sâu về vai trò của hoạt động đầu tư, mới chỉ nhắc đến đầu tư một cách gián tiếp, trong khi đầu tư là nguồn gốc tạo nên nhiều nhân tố của năng lực cạnh tranh. Vì thế, đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh chưa được xem như giải pháp then chốt, dài hạn trong các nghiên cứu.
“Chính vì vậy, bên cạnh việc xây dựng những chỉ tiêu phù hợp, khách quan để đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM, luận văn sẽ nghiên cứu tập trung vào hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh, khẳng định đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh là một giải pháp cơ bản đảm bảo cho ngân hàng giữ vững và củng cố vị thế của mình trong điều kiện hội nhập sâu rộng và cạnh tranh mạnh mẽ. Luận văn sẽ phân tích, đánh giá hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại thông qua các số liệu cụ thể, điển hình của Ngân hàng TMCP Á Châu – CN Nghệ An, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả của hoạt động này, đề xuất các giải pháp để hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh phát huy hiệu quả với kỳ vọng có thể xem đó như các giải pháp căn bản, mang tính khả thi cao.” 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh tại Ngân hàng thương mại NHTM“đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế thị trường. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường - thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được.”” Theo giáo trình NHTM của trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2007) định nghĩa: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Như vậy, định nghĩa trên đã khẳng định “NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt là tiền tệ”.
Để thực hiện được các hoạt động của mình, NHTM được huy động vốn trong nền kinh tế với trách nhiệm hoàn trả, NHTM sử dụng vốn huy động được để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác. “NHTM là một loại hình kinh doanh” đặc biệt chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính. Thực hiện chức năng của mình, NHTM đã thỏa mãn các nhu cầu của xã hội, tăng lợi ích của các bên tham gia, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. NHTM có ba chức năng cơ bản: “Thứ nhất là chức năng t.
ủ quỹ của xã hộ , ngh , c.” 8 Với chức năng trung gian tín dụng,“ngân hàng làm cầu nối giữa người có vốn dư thừa và người có nhu cầu về vốn.”Với chức năng này,“NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và và lãi suất cho vay, góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia.”Chức năng này xuất phát từ đặc điểm tuần hòa vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội. Sở dĩ ngân hàng làm được chức năng này vì nó là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết được tình hình cung cầu về tín dụng. Thông qua chức năng này, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ.” Thứ hai là chức năng tạo tiền .“Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.”Từ khoản tích trữ ban đầu, thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản,“hệ thống NHTM có khả năng tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu.
Mức mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ số này chịu tác động bởi các yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng.” Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở chức năng tài chính. Thứ ba là chức năng sản xuất.