Chương 1: Giới thiệu. Trình bày bối cảnh nghiên cứu, những vấn đề bất cập của ngành CNTT Việt Nam, từ đó đặt ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu. Nêu phương pháp nghiên cứu, đối tượng phạm vi nghiên cứu và cấu trúc nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước.
Giới thiệu tổng quan về cơ sở lý thuyết được dùng làm khung phân tích cho nghiên cứu, bao gồm lý thuyết về cụm ngành và mô hình kim cương của Micheal Porter. Ngoài ra, chương này còn khái quát những nghiên cứu trước đây về ngành CNTT Việt Nam, phương pháp tiếp cận và những kết quả chính của chúng. Chương 3: Phân tích NLCT của cụm ngành CNTT Việt Nam và so sánh với NLCT của cụm ngành CNTT Thái Lan. Sử dụng các yếu tố trong mô hình kim cương để phân tích NLCT của cụm ngành CNTT Việt Nam.
Đồng thời trong quá trình phân tích, tác giả so sánh với NLCT của cụm ngành CNTT Thái Lan thông qua những số liệu cụ thể, từ đó làm nổi bật lên những điểm yếu, điểm mạnh của cụm ngành CNTT Việt Nam một cách khách quan hơn. Chương 4: Kết luận và gợi ý chính sách. Tổng kết lại những luận điểm đã được phân tích ở chương 3 và rút ra những kết luận về NLCT của cụm ngành CNTT Việt Nam, từ đó tác giả đề xuất những gợi ý chính sách mà chính phủ, các doanh nghiệp, các hiệp hội có thể thực hiện để nâng cao NLCT cụm ngành CNTT Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Lý thuyết cụm ngành Theo Porter (2008), cụm ngành là tập hợp các doanh nghiệp có liên quan với nhau và các thể chế hỗ trợ (như tài chính, giáo dục, nghiên cứu, tiêu chuẩn…) cùng nằm trong một khu vực địa lý nhất định, có liên kết tương đồng và tương hỗ với nhau. Tùy theo quy mô xem xét mà phạm vi của cụm ngành cũng khác nhau, có thể là một tỉnh/thành phố, một vùng lãnh thổ, một quốc gia hoặc một khu vực quốc tế. Cấu trúc của cụm ngành cũng cực kỳ đa dạng, tùy thuộc vào đặc điểm riêng của từng ngành, mức độ phức tạp và chiều sâu của cụm ngành đó. Tuy nhiên, thông thường các cụm ngành sẽ có chung những bộ phận như sau: các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng; các doanh nghiệp cung cấp đầu vào chuyên biệt cho ngành; các doanh nghiệp hạ nguồn; các thể chế hỗ trợ, các ngành có liên quan về công nghệ, sản xuất, quan hệ… Cụm ngành có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, giúp nâng cao NLCT của một ngành tại địa phương, quốc gia cụ thể.
Thông qua các mối liên kết trong cụm ngành, các doanh nghiệp có thể tăng cơ hội được tiếp cận thông tin, bên cạnh đó là sự sẵn có của các dịch vụ và các sản phẩm đầu vào chuyên biệt. Do đó các doanh nghiệp có thể giảm được đáng kể chi phí giao dịch, chi phí vận chuyển, chi phí điều phối mà tốc độ thì lại tăng lên. Các mối liên kết này cũng giúp cho doanh nghiệp tăng khả năng lan tỏa công nghệ, lan tỏa kỹ năng, giúp các doanh nghiệp cùng phối hợp giải quyết những vấn đề chung một cách thuận lợi hơn. Cụm ngành thúc đẩy các doanh nghiệp thử nghiệm và đổi mới sáng tạo do giảm được chi phí thử nghiệm, giảm bớt rủi ro.
Như vậy cụm ngành sẽ tạo ra một môi trường hoạt động hiệu quả hơn cho các đơn vị thành viên, nâng cao NLCT cho các doanh nghiệp, cho ngành. Để một cụm ngành có thể phát triển thành công cần phải đạt được một số điều kiện nhất định. Trước hết là về mặt tập trung địa lý, phải có sự hiện diện của một số lượng lớn các doanh nghiệp (hoặc nội địa hoặc nước ngoài) mạnh, đã được thị trường kiểm chứng. Bên cạnh đó, cụm ngành phải đảm bảo một hoặc vài yếu tố trong mô hình kim cương có ưu thế vượt trội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 (xem mô hình kim cương ở mục 2.
Phải có sự đầu tư đáng kể của một hoặc vài doanh nghiệp ở vị trí dẫn đầu thế giới và sự đầu tư ấy sẽ còn được mở rộng. Ngoài ra, các cụm ngành liên quan khác phát triển mạnh mẽ cũng là một điều kiện quan trọng để cụm ngành chính phát triển theo. Nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong phát triển cụm ngành thông qua việc sửa chữa thất bại của thị trường. Những thất bại này thường là do nhu cầu thị trường của ngành còn yếu, đặc biệt là thời gian đầu mới hình thành; thị trường không đầy đủ như thiếu quỹ đầu tư mạo hiểm, cơ chế phòng ngừa rủi ro tài chính; tính chất rủi ro cao trong các ngành công nghệ tiên phong; tính chất hàng hóa công dẫn đến tình trạng người ăn theo; các ngoại tác tiêu cực đến sức khỏe, môi trường… Nhà nước cần chủ động nhận diện và có những chính sách hỗ trợ thích hợp nhằm thúc đẩy các cụm ngành mới manh nha, còn sơ khai.
Nếu cụm ngành đã hiện hữu rõ rệt thì nhà nước cần đảm bảo các điều kiện cần thiết và khắc phục những rào cản để cụm ngành có thể phát triển mạnh mẽ hơn. Việc nhà nước phát triển một cụm ngành không chỉ thúc đẩy riêng ngành đó mà còn có tác dụng thúc đẩy phát triển các cụm ngành khác liên quan đến nó. Tuy nhiên nhà nước cần phải lưu ý tránh trường hợp duy ý chí trong nhận diện và phát triển cụm ngành. Các chính sách hỗ trợ cũng cần phải hướng đến các đối tượng rộng rãi chứ không nên tập trung vào một nhóm cá biệt.
Mô hình kim cương của Micheal Porter Lợi thế cạnh tranh của một quốc gia được phản ánh thông qua các nhân tố nằm trong bốn thuộc tính lớn của quốc gia. Mỗi thuộc tính đứng riêng ở một góc và liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên hình thoi như một hệ thống. Các điều kiện nhân tố đầu vào: Bao gồm vị trí địa lý, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, vốn, nguồn nhân lực… Các nhân tố sản xuất liên quan đến các khoản đầu tư lâu dài hoặc được chuyên môn hóa đóng vai trò quan trọng nhất. Ví dụ một ngành có được lực lượng lao động đạt trình độ đại học nhiều chưa hẳn đã là lợi thế cạnh tranh mà lực lượng lao động ấy phải được đào tạo chuyên môn hóa sâu về ngành đó mới tạo ra được lợi thế cạnh tranh.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Các điều kiện nhu cầu: Nhu cầu của thị trường nội địa giúp cho các doanh nghiệp dễ hình dung hơn và dự báo tốt hơn những xu hướng của người mua trên thị trường toàn cầu. Nếu nhu cầu nội địa có thể dẫn dắt thị hiếu, nhu cầu ở các quốc gia khác thì sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước. Những đòi hỏi, yêu cầu khắt khe và đặc thù của khách hàng là động lực giúp các doanh nghiệp thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, từ đó nâng cao NLCT. Bối cảnh chiến lược kinh doanh và cạnh tranh: Bối cảnh của quốc gia ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách thức hoạt động và cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước.
NLCT của một ngành được tạo ra từ phương pháp tổ chức và phương pháp quản lý truyền thống của quốc gia. Các quốc gia khác nhau có sự khác nhau về mục tiêu mà các công ty và cá nhân tìm kiếm đạt được. Trong một ngành, nếu có những đối thủ cạnh tranh đáng gờm thì sẽ là động lực quan trọng cho các doanh nghiệp cải thiện NLCT. Các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh với nhau rất gắt gao, không chỉ về thị phần mà còn về con người, độ tinh xảo… Các ngành hỗ trợ và liên quan: Các doanh nghiệp cung ứng có năng lực cao, đẳng cấp quốc tế sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn cho quốc gia.
Các doanh nghiệp này giúp cho việc tiếp cận sản phẩm, dịch vụ đầu vào luôn sẵn có, chi phí thấp, nhanh chóng và thuận tiện. Ngoài ra, nhờ mối liên kết chặt chẽ, các doanh nghiệp này còn có thể đổi mới, sáng tạo phù hợp nhất, nhanh chóng nhất phục vụ cho các ngành trong nước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Mô hình kim cương Môi trường nội địa khuyến khích đầu tư và nâng cấp bền vững thích hợp Bối cảnh chiến lược Cạnh tranh quyết liệt giữa kinh doanh và cạnh các đối thủ tại địa phương tranh Các điều kiện nhân Các điều kiện nhu tố đầu vào cầu - Mức độ đòi hỏi Số lượng và chi phí của khắt khe của khách nhân tố đầu vào: hàng - Tài nguyên thiên nhiên - Nhu cầu nội địa dự Các ngành hỗ trợ - Tài nguyên con người báo nhu cầu ở những - Tài nguyên vốn và liên quan nơi khác - Cơ sở hạ tầng vật chất - Sự có mặt của các nhà - Nhu cầu nội địa bất - Cơ sở hạ tầng quản lý cung cấp nội địa có năng thường ở những phân - Cơ sở hạ tầng thông lực khúc chuyên biệt hóa tin, khoa học và công - Sự hiện diện của ngành có thể được đáp ứng nghệ cạnh tranh có liên quan trên toàn cầu Nguồn: Porter (2008) 2. Software/ICT Cluster Strategy Đây là báo cáo do Vietnam Competitiveness Initiative (VNCI) thực hiện vào năm 2003.
VNCI là một dự án phát triển kinh tế được tài trợ bởi Cơ quan Hoa Kỳ về phát triển quốc tế (USAID), với mục tiêu gia tăng NLCT của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Báo cáo này được thực hiện trong bối cảnh sức mạnh của công nghệ và vận tải đang làm cho thế giới trở nên nhỏ lại, các doanh nghiệp và thậm chí cả chính phủ phải học cách cạnh tranh trên thị trường thế giới. Việt Nam cũng đã bắt đầu tìm cách ứng dụng CNTT trong phát triển kinh tế - xã hội. Do báo cáo bị hạn chế về nguồn lực, thời gian, kinh phí nên một số điểm cần phải có nghiên cứu sâu hơn để kiểm chứng.
Báo cáo lập ra ba nhóm quốc gia để làm căn cứ đối chiếu với Việt Nam trên nhiều tiêu chí quan trọng. Báo cáo sử dụng nhiều công cụ khác nhau để phân tích, bao gồm: phân tích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 SWOT, phân tích GAP và mô hình kim cương. Tuy nhiên, báo cáo chỉ đưa ra những kết quả cuối cùng mà không trình bày các phân tích, lập luận để dẫn đến kết quả ấy.