Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng và sự phát triển của ngân hàng 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau.
- Theo Diễn đàn OECD (2002), “tính cạnh tranh của một doanh nghiệp, ngành hay quốc gia là khả năng của doanh nghiệp, ngành hay quốc gia hay vùng tạo ra mức thu nhập yếu tố và tuyển dụng yếu tố tương đối cao khi phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế”. Về bản chất, cạnh tranh là ganh đua là đấu tranh giữa các chủ thể kinh tế, để giành sự tồn tại, lợi nhuận hay địa vị trên thương trường. - Theo hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus cho rằng: Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. - Theo Michael Porter, cạnh tranh là giành lấy thị phần, là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành và theo đó giá cả có thể giảm đi. Hiện nay, cạnh tranh và hợp tác đan xen nhau, nhưng xu thế chính là hợp tác. Xét trên gốc độ doanh nghiệp, cạnh tranh là động lực, là yếu tố kích thích các doanh nghiệp không ngừng đổi mới, cải tiến qui trình công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí và tìm kiếm những thị trường mới, mở rộng thị phần, tìm kiếm lợi nhuận cao hơn 1. Khái niệm khả năng cạnh tranh Theo quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống xem xét lợi thế cạnh tranh hay tính cạnh tranh đối với một sản phẩm thông qua lợi thế so TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 sánh về chi phí sản xuất và năng suất.
Theo Van Duren, Martin và Westgren (1991) thì tính cạnh tranh của một ngành/doanh nghiệp là năng lực duy trì được lợi nhuận và thi phần trên thị trường trong và ngoài nước. Một doanh nghiệp được coi là có khả năng cạnh tranh thì cần phải có tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là việc huy động, sử dụng hiệu quả các lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Đó là khả năng doanh nghiệp có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, hoặc sản xuất ra sản phẩm tương tự với các đặc tính chất lượng ngang bằng hoặc cao hơn.
Cạnh tranh để giành được và duy trì thị phần trên thị trường với một lợi nhuận nhất định. Khái niệm năng lực cốt lõi Theo Hoàng Lâm Tịnh (2013), Năng lực cốt lõi là tập hợp những kỹ năng, chuyên môn mà nhờ đó doanh nghiệp vượt hơn đối thủ cạnh tranh. Năng lực cốt lõi có thể là công nghệ, bí quyết kỹ thuật, mối quan hệ thân thiết với khách hàng, hệ thống phân phối, thương hiệu mạnh. Các doanh nghiệp tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh thông qua việc phát triển năng lực cốt lõi của mình, đó là những năng lực: - Cho phép doanh nghiệp tạo sự khác biệt về sản phẩm, dịch vụ của nó so với các đối thủ cạnh tranh khác.
- Là nền tảng tạo ra lợi thế cạnh tranh. - Tạo ra hiệu quả tốt nhất khi dựa trên các nguồn lực hữu hình, vô hình và năng lực tổ chức tốt. Để duy trì bền vững lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, năng lực cốt lõi phải có đủ 4 điều kiện (VRIN): Giá trị (Valueable): cho phép doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt sản phẩm, dịch vụ tạo ra giá trị độc nhất. Khan hiếm (Rare): các đối thủ cạnh tranh không thể tiếp cận được.
Không thể bắt chước (Inimitable): các đối thủ cạnh tranh không thể dễ dàng sao chép, sản xuất ra. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Không thể thay thế (Nonsubstitutable): những nguồn lực tương đương để tạo ra những chiến lược tương tự không sẵn có. Khái niệm lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh có thể tiếp cận từ một doanh nghiệp hay một quốc gia. Theo Michel Porter (2009), nếu một doanh nghiệp chỉ tập trung vào 2 mục tiêu tăng trưởng và đa dạng hóa sản phẩm thì chiến lược đó không đảm bảo sự thành công lâu dài.
Điều quan trong đối với bất kỳ doanh nghiệp nào là xây dựng cho mình một lợi thế cạnh tranh bền vững. Lợi thế cạnh tranh bền vững dựa trên việc doanh nghiệp luôn cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không một đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được. Lợi thế cạnh tranh là tập hợp các giá trị mà doanh nghiệp có thể sử dụng để “nắm bắt cơ hội” kinh doanh để có lợi nhuận. Khi nói đến lợi thế cạnh, chúng ta nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp đang có và có thể có so với các đối thủ cạnh tranh của nó.
Có 2 loại lợi thế cạnh tranh cơ bản: chi phí tối ưu (cost leadership) và khác biệt hóa (differentiation). Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xét trên các cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, có hai hệ thống lý thuyết được sử dụng nhiều nhất: - Thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) trình bày trong bản “ Báo cáo cạnh tranh toàn cầu” - Thứ hai do Viện Quốc tế về Quản lý và Phát triển (IMD) đề xuất trong “ Cuốn Niên giám cạnh tranh thế giới”.
Cả hai phương pháp này do nhóm Giáo sư đại học Harvard (như Michael Porter, Jeffrey Shach) và một số chuyên gia của WEF (như Cornelius, Mache Levison) tham gia xây dựng. Theo OECD (2002), thì “năng lực cạnh tranh được đồng nghĩa với năng suất lao động, là sức sản xuất cao trên cơ sở sử dụng hiệu quả yếu tố sản xuất để TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Porter (2006), thì “Năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, để tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”.
Năng lực cạnh tranh là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được kết quả mong muốn về thị phần, lợi nhuận và chất lượng sản phẩm. Đó là năng lực khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và phát triển thị trường mới. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải là năng lực nội tại của doanh nghiệp như các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, quản trị,… và được đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng một thị trường.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, gắn với thị phần mà nó nắm giữ, với hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cũng giống như mọi doanh nghiệp, NHTM cũng là một doanh nghiệp và là một doanh nghiệp đặc biệt và NHTM cũng tồn tại với mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Theo Nguyễn Thị Quy (2005, trang 22) thì: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng; đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động của môi trường kinh doanh”. Từ những phân tích trên có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một ngân hàng như sau: “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng duy trì, phát triển những lợi thế về sản phẩm, dịch vụ, hệ thống mạng lưới và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao và bền vững.
Đó là việc khai thác, sử TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 dụng nội lực và tận dụng những lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm chiếm lĩnh thị phần và nâng cao vị thế của ngân hàng trên thị trường". Những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM Hiện nay có nhiều yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của NHTM. Tuy nhiên, với những đặc điểm của mình, năng lực cạnh tranh của các NHTM về cơ bản được thể hiện qua các yếu tố như: 1. Năng lực nguồn nhân lực Hiện nay nguồn nhân lực là tài sản vô cùng quý giá của các doanh nghiệp, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm và chú trọng vào phát triển nguồn nhân lực.
NHTM là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì yếu tố con người có vai trò quan trọng đến chất lượng dịch vụ. Vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng đòi hỏi rất cao, từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần, tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của các ngân hàng phải được xem xét trên cả hai khía cạnh số lượng và chất lượng lao động. Về số lượng lao động: Hiện nay, các ngân hàng không ngừng phát triển hệ thống mạng lưới giao dịch để đáp ứng nhu cầu khách hàng giành lấy thị phần nên ngân hàng phải có đủ số lượng lao động cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển ấy.
Về chất lượng lao động: thể hiện qua tiêu chí sau - Trình độ của đội ngũ lao động: Tiêu chí này thể hiện khả năng học hỏi, nắm bắt công việc nhanh chóng và hoàn thành tốt nhiệm vụ của người lao động. - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đội ngũ nhân viên ngân hàng có chuyên môn nghiệp vụ cao sẽ quyết định chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, đồng thời tạo niềm tin và ấn tượng tốt trong tâm trí khách hàng. Đây là yếu tố rất quan trọng để ngân hàng giành khách hàng và chiếm thị phần cao.