Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam trong giai đoạn 2008-2012. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam. Phần kết luận 123doc 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực canh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh - Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. - Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. - Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học cho rằng cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).
- Ba tác giả Mỹ khác là D. Dornbusch cũng cho cạnh tranh là cạnh là cạnh tranh hoàn hảo. Một cạnh tranh hoàn hảo, là ngành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua. Các loại hình cạnh tranh Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phân ra thành nhiều loại: * Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại - Cạnh tranh giữa người mua và người bán - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau 123doc 4 - Cạnh tranh giữa những người bán với nhau * Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế cạnh tranh được phân thành hai loại - Cạnh tranh trong nội bộ ngành - Cạnh tranh giữa các ngành * Căn cứ vào tính chất cạnh tranh cạnh tranh được phân thành 3 loại.
- Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition) - Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition) - Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition) * Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành: - Cạnh tranh lành mạnh - Cạnh tranh không lành mạnh 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lại đưa ra một khái niệm về năng lực cạnh tranh. Đó là “Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” - Theo Micheal Porter thì “Những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là những doanh nghiệp đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng hàng hoá và dịch vụ hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tương đối cho phép họ tăng được lợi nhuận (doanh thu – chi phí) hoặc thị phần. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của NHTM 1.
Khái niệm ngân hàng thƣơng mại: Theo Luật số 02/1997/QH10 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam, Nghị định của Chính Phủ số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000, ngân hàng thương mại là một loại định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị 123doc 5 trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà nguồn tiền nhàn rỗi nằm rãi rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh. Nó bao gồm các yếu tố nội tại và ngoại sinh của ngân hàng tác động đến chiến lược cạnh tranh của ngân hàng đó.
Từ đó, có thể tận dụng các cơ hội trên cơ sở phát huy lợi thế của mình, đồng thời cũng khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường kinh doanh đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Những đặc điểm chung và nghiệp vụ chủ yếu của NHTM Qua các khái niệm trên ta có thể rút ra những đặc điểm chung của ngân hàng thương mại: - Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp, vì ngân hàng thương mại ra đời là để kinh doanh, mục đích hoạt động là vì lợi nhuận: Nói rằng ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp vì nó có cơ cấu, tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình thường trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, tự chủ về tài chính và phải có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước như các doanh nghiệp khác. - Hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh. - Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt.
Nét đặc biệt của doanh nghiệp ngân hàng thể hiện ở các nội dung sau: Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, 123doc 6 liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội và mặt khác; lĩnh vực kinh tế - ngân hàng là lĩnh vực “ nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự thận trọng trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội. Chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là một công cụ được nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển hoặc suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó chất liệu này được nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ. Là một doanh nghiệp nhưng nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó vốn riêng của ngân hàng thì chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng nguốn vốn kinh doanh.
Trong tổng tài sản của ngân hàng, tài sản hữu hình chiếm tỷ trọng rất thấp, mà chủ yếu là tài sản vô hình. Nó tồn tại dưới hình thức các tài sản tài chính, chẳng hạn như các loại kỳ phiếu, trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá trị khác. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại chịu sự chi phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. - Ngân hàng thương mại là một trung gian tín dụng, đóng vai trò một tổ chức trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Như vậy, có thể nói ngân hàng thương mại là nhịp cầu nối liền những chủ thể thừa vốn (các cá nhân có thu nhập nhưng chưa có nhu cầu sử dụng, các doanh nghiệp vừa tiêu thụ được sản phẩm nhưng chưa có nhu cầu nhập vật tư, hàng hoá) với các chủ thể thiếu vốn (những cá nhân phát sinh nhu cầu tiêu dùng nhưng thu nhập lại chưa có hay các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế đang cần nhập vật tư, nguyên vật liệu nhưng chưa tiêu thụ được sản phẩm). Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại: Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ - NGUỒN VỐN): Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế. Thành 123doc 7 phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm: Vốn điều lệ, Các quỹ dự trữ, Vốn huy động, Vốn đi vay, Vốn tiếp nhận, Vốn khác.
Vốn điều lệ và các quỹ: Vốn điều lệ, các quỹ của ngân hàng được gọi là vốn tự có của ngân hàng. Nguồn hình thành: - Vốn chủ sở hữu khi ngân hàng mới thành lập - Nguồn vốn bổ sung hàng năm từ lợi nhuận kinh doanh, từ vốn góp thêm của chủ sở hữu. Đặc điểm: - Vốn tự có là nguồn vốn có tính ổn định cao và không ngừng gia tăng - Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất tuy nó chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ, nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng Mục đích sử dụng: - Vốn điều lệ của ngân hàng trước hết được dùng để: Xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng, số còn lại để đầu tư, liên doanh, cho vay trung và dài hạn - Các quỹ dự trữ của ngân hàng: đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ qui định trên số lợi nhận ròng của ngân hàng, bao gồm: Quỹ dự trữ : được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm để bổ sung vốn điều lệ Quỹ dự phòng tài chính: Quỹ này để dự phòng bù đắp rủi ro, thua lỗ trong hoạt động của ngân hang Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ Quỹ khen thưởng phúc lợi. Lợi nhuận để lại để phân bổ cho các quỹ.
Chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản, nguồn vốn đầu tư 123doc 8 b. Vốn huy động: Đây là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu.