mở đầu cho sự phát triển của ngành công nghệ truyền thông. Hoạt động M&A trong giai đoạn này có xu hướng kết hợp giữa các doanh nghiệp nằm trên cùng một chuỗi giá trị, giúp họ kiểm soát tốt các kênh phân phối. Điều này làm cho việc mở rộng mạng lưới kinh doanh được phát triển thông qua hệ thống công nghệ truyền thông. Giai đoạn 1965 – 1970: đây là giai đoạn mà nền kinh tế thế giới góp mặt với sự xuất hiện phổ biến của các tập đoàn, công ty đa quốc gia.
Nhiều công ty Mỹ bắt đầu đầu tư ra nước ngoài do các chính sách khuyến khích về thuế, giảm bớt các rào cản thương mại, giảm chi phí vận chuyển. Làn sóng hoạt động M&A chấm dứt vào đầu những năm 1970 khi chỉ số chứng khoán Dow Jones giảm, đồng thời là cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới nổ ra. Giai đoạn 1980 – 1990: đây là thời kỳ mà hình thức thâu tóm diễn ra khá mạnh mẽ. Bất kỳ công ty nào nếu không phát huy hết khả năng của mình đều có nguy cơ bị thâu tóm.
Vào những năm 1980, các cuộc thâu tóm trên thế giới diễn ra chậm lại và chấm dứt khi thị trường trái phiếu sụp đổ, các Ngân hàng thương mại ở Mỹ gặp khó khăn với các khoản nợ, tính thanh khoản về vốn thấp. Giai đoạn 1992 – 2001: làn sóng hoạt động M&A xuất hiện sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997. Hoạt động M&A diễn ra thành lập các tập đoàn tài chính lớn mạnh trên thế giới. Giai đoạn 2002- nay: làn sóng hoạt động M&A phát triển trên phạm vi trên toàn thế giới hay còn gọi là làn sóng toàn cầu hóa.
Nhìn vào 6 chu kỳ này, chúng ta nhận thấy hầu hết các chu kỳ hoạt động M&A đều rơi vào những giai đoạn kinh tế phát triển, nhất là giai đoạn thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh, phát triển càng mạnh thì dẫn đến làn sóng hoạt động M&A càng cao 123doc 5 1.3 Phân biệt khái niệm sáp nhập và mua lại Sáp nhập Mua lại Không dùng tiền mặt, thường được thực Giao dịch mua lại thường được hiện bằng cách chia sẻ cổ phiếu thanh toán bằng tiền mặt hoặc bằng ngân phiếu Định giá: bằng cách xác định cổ phiếu Định giá: không quy giá trị của công ty bị sáp nhập bằng bao nhiêu cổ công ty bị mua lại thành cổ phiếu phiếu công ty nhận sáp nhập mà xác định giá trị của nó bằng tiền mặt Hội đồng quản trị của công ty bị sáp nhập Hội đồng quản trị của công ty bị sau khi sáp nhập không có vai trò vị trí mua lại không có vai trò và quyền bằng công ty nhận sáp nhập hạn gì trong việc tái tổ chức công ty mới Sau sáp nhập, công ty bị sáp nhập thường Sau mua lại, công ty bị mua lại có mất đi. Trên đây là những điểm khác biệt giữa sáp nhập và mua lại. Tuy nhiên việc phân biệt chúng đôi khi còn phụ thuộc vào mục tiêu truyền thông của các bên liên quan. Chẳng hạn, một công ty mua lại một công ty khác, giành quyền kiểm soát toàn bộ và xóa sổ công ty bị thâu tóm nhưng vẫn có thể thông tin ra bên ngoài là sự sáp nhập.
Một thương vụ M&A được coi là mua lại hay sáp nhập tùy thuộc vào thái độ của các bên tham gia: khi ban giám đốc điều hành của cả hai phía bị sáp nhập và đi sáp nhập có thái độ hợp tác, lạc quan đối với thương vụ đó thì là sáp nhập, ngược lại khi bên bị sáp nhập không hợp tác thì được coi là vụ mua lại.4 Các hình thức sáp nhập và mua lại: 1.1 Dựa trên mức độ liên hệ giữa các bên tiến hành M&A Sáp nhập cùng ngành (hay còn gọi là sáp nhập chiều ngang) Các NH tiến hành sáp nhập với những NH cùng cạnh trạnh trực tiếp về một dòng sản phẩm, dịch vụ và thị trường. Thông qua phương thức sáp nhập các NH đạt được những lợi ích: mở rộng thị trường, kết hợp thương hiệu, giảm thiểu chi phí cố định, tăng cường hiệu quả của hệ thống phân phối, bớt đối thủ cạnh tranh, tận dùng nguồn lực về con người, tạo nên sức mạnh lớn hơn để cạnh tranh với các đối thủ còn lại. Sáp nhập dọc: Diễn ra đối với các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng như các NH sáp nhập với những doanh nghiệp trong cùng một chuỗi cung ứng sản phẩm hay dịch vụ nào đó. Thường là NH với doanh nghiệp là khách hàng của NH đó.
Ví dụ như: NH thâu tóm một công ty chứng khoán là khách hàng của mình để triển khai hoạt động chính như tín dụng, tiền gửi sang lĩnh vực chứng khoán. Bằng cách sáp nhập dọc như vậy, các NH có thể đạt được những lợi ích như: kiểm soát được rủi ro khi cấp tín dụng cho các khách hàng, giảm các chi phí trung gian phát sinh trong quá trình đưa dịch vụ đến với khách hàng. Sáp nhập mở rộng thị trường: Diễn ra đối với các NH có cùng sản phẩm dịch vụ nhưng hoạt động ở các thị trường, các khu vực khác nhau. Phương thức sáp nhập này có tác dụng mở rộng thị trường, tăng thị phần cho các NH sáp nhập.
Ví dụ: một NH có thị trường chính ở Tp.HCM sáp nhập với một NH có thị trường chính ở Hà Nội. Sáp nhập mở rộng sản phẩm: Diễn ra đối với các NH bán những sản phẩm dịch vụ khác nhau, nhưng có liên quan với nhau trong cùng một thị trường. 123doc 7 Sáp nhập kiểu tập đoàn: Diễn ra khi một NH sáp nhập với doanh nghiệp không cùng lĩnh vực kinh doanh của mình để đa dạng hóa hoạt động kinh doanh đa ngành đa nghề. Phương thức sáp nhập này thường tăng quy mô của NH nhận sáp nhập thông qua đó tăng sự ảnh hưởng của nó với thị trường, đa dạng ngành nghề kinh doanh để phân tán những rủi ro có thể xảy ra.
Thông thường các tập đoàn NH lớn trên thế giới đều nắm giữ cùng lúc nhiều mảng kinh doanh như: dịch vụ NH, cầm cố thế chấp, chứng khoán, bất động sản… 1.2: Dựa vào các cách thức cơ cấu tài chính: Sáp nhập mua Loại hình này xảy ra khi một NH mua lại một NH khác. Việc mua lại NH được tiến hành bằng tiền mặt hoặc thông qua một số công cụ tài chính như phát hành các loại chứng từ ghi nợ (cổ phiếu hay trái phiếu). Sáp nhập hợp nhất: Hai hay nhiều NH hợp nhất thành một NH mới có tư cách pháp nhân mới và một thương hiệu NH mới được hình thành. Tài chính của các NH hợp nhất đó sẽ được hợp nhất trong NH mới.3 Dựa trên phạm vi lãnh thổ: Sáp nhập và mua lại trong nước Đây là những thương vụ sáp nhập, mua lại giữa các NH trong cùng lãnh thổ một quốc gia.
Sáp nhập và mua lại xuyên biên Sáp nhập và mua lại xuyên biên được thực hiện giữa các NH thuộc hai quốc gia khác nhau, là một trong những hình thức đầu tư trực tiếp phổ biến nhất hiện nay.5 Các phương thức thực hiện M&A 1.1 Chào thầu (tender offer) Khi một doanh nghiệp, NH hay cá nhân nào đó muốn mua lại một NH mục tiêu, họ sẽ chính thức đưa ra giá để mua cổ phiếu của đối tượng đó. Mức giá đưa ra phải cao hơn giá thị trường tại cùng thời điểm, thậm chí là cao hơn khá nhiều để tạo sự quan tâm của cổ đông NH mục tiêu. Khi dùng phương pháp này, phía đi thâu tóm thường tốn mức chi phí khá cao. Thông thường giá đưa ra chào thầu cao hơn thị trường rất nhiều.
Sau khi có thông báo chào mua đó, NH mục tiêu có thể tổ chức đại hội cổ đông để đi đến quyết định bán hay không. Nếu các cổ đông đồng ý, NH sẽ được bán cho bên mua. Trong rất nhiều trường hợp, cổ đông đứng trước sự hấp dẫn của mức giá mà bên thâu tóm đưa ra đã quyết bán cổ phiếu dù ban quản trị không mong muốn. Sau khi tiếp quản NH mục tiêu, phía thâu tóm sẽ thực hiện những kế hoạch cải tổ ban quản trị hay bất cứ mụa tiêu gì mà họ đã dự định.
Đây là phương thức mua lại mang tính chất “thôn tính thù nghịch”. Hình thức này xem ra khá gọn nhẹ và thường được các NH hay các doanh nghiệp lớn áp dụng để mua lại các đối thủ có quy mô nhỏ hơn. Tuy nhiên trong thực tế, phương thức này cũng được áp dụng để triệt hạ những đối thủ cạnh tranh lớn, đe dọa trực tiếp hoạt động của NH hay doanh nghiệp thâu tóm. Trường hợp này bên đi thâu tóm sẽ phải huy động một lượng tiền lớn để đáp ứng mức chào thầu mà họ định đưa ra.
Để tạo áp lực buộc cổ đông NH mục tiêu phải bán cổ phiếu, thường bên đi thâu tóm sẽ đưa ra một tỷ lệ cao (ví dụ như 80%), nếu mua đủ số đó thì mới mua còn không đủ sẽ hủy không mua. Nếu các cổ đông này cảm thấy hấp dẫn bởi mức giá mua lại của bên thâu tóm đưa ra, họ sẽ quyết định bán lại cổ phiếu. Trong thương vụ “chào thầu”, ban quản trị NH mục tiêu bị mất quyền định đoạt, bởi vì đây là sự trao đổi trực tiếp giữa NH thôn tính và cổ đông của NH mục tiêu, trong khi ban quản trị (thường chỉ là người đại diện do đó trực tiếp không nắm đủ số lượng cổ phần chi phối) bị gạt ra bên ngoài. 123doc 9 Thông thường, ban quản trị và các vị trí quản lý chủ chốt của NH mục tiêu sẽ bị thay thế, mặc dù thương hiệu và cơ cấu tổ chức của nó vẫn có thể được giữ lại mà không nhất thiết bị sáp nhập hoàn toàn vào NH thôn tính.
Để chống lại vụ sáp nhập bất lợi cho mình, nhiều trường hợp ban quản trị NH bị thâu tóm sẽ phản kháng lại bằng cách đi tìm một đối tác tốt hơn, đưa ra giá mua cao hơn để đối chọi với bên thâu tóm. Hẳn nhiên đây là cách không dễ dàng vì rất khó để tìm được một đối tác như thế. Ban quản trị này cũng có thể đi vay để mua lại cổ phiếu của mình và sau đó rút khỏi thị trường chứng khoán. Họ cũng có thể dùng số tiền đi vay để trả cổ tức thật cao và thuyết phục cổ đông không bán cổ phiếu đi.
Cũng có khi ban quản trị lại tìm đến cách giải quyết tiêu cực hơn là poison pill – viên thuốc độc.