CHƯƠNG 1 PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động Kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng thương mại 1. Kinh doanh ngoại hối và một số khái niệm cơ bản Ngoại hối và ngoại tệ Khái niệm ngoại hối được hiểu theo luật định và tương đối thống nhất giữa các quốc gia. Ngoại hối bao gồm: - Đồng tiền của quốc gia, lãnh thổ khác, đồng tiền chung Châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ).
- Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ như séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện thanh toán khác. - Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác. - Vàng thuộc dự trữ ngoại hối quốc gia, vàng trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú, vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. - Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.
(Khoản 1, điều 4, Pháp lệnh ngoại hối của Ủy ban thường vụ quốc hội, 2015) Như vậy, ngoại hối bao gồm các phương tiện thanh toán được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Trong đó, phương tiện thanh toán là những thứ có sẵn để chi trả. Đối với một quốc gia, ngoại hối bao gồm ngoại tệ, các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn quốc tế, đồng tiền quốc gia do người không cư trú nắm giữ. Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối, nhưng trong thực tế, người Luận văn thạc sĩ Viện đại học mở 6 ta chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ.
Ngoại tệ là đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung Châu Âu và đông tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực. Ngoại tệ có thể là tiền kim loại, tiền giấy, tiền trên tài khoản, séc du lịch, tiền điện tử và các phương tiện khác được xem như tiền. Khái niệm Kinh doanh ngoại hối “Kinh doanh ngoại hối là việc mua bán các loại ngoại tệ khác nhau nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu về ngoại tệ cho ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận thông qua chênh lệch về tỉ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau.” (Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh, 2010) Như đã nêu ở phần trước, đối tượng mua bán trên thị trường ngoại hối chỉ bao gồm các đồng tiền khác nhau, hay các ngoại tệ, mà không tính đến vàng hay các loại giấy tờ có giá khác. Nghĩa là: Thị trường ngoại hối được hiểu theo nghĩa hẹp là thị trường ngoại tệ, kinh doanh ngoại hối được hiểu theo nghĩa hẹp là kinh doanh ngoại tệ.
Trong khoá luận này, người viết cũng hiểu và sử dụng hai thuật ngữ trên theo nghĩa hẹp như vậy. Tỉ giá hối đoái Có hai khái niệm về tỷ giá hối đoái: Khái niệm 1: “Các phương tiện thanh toán quốc tế được mua và bán trên thị trường hối đoái bằng tiền tệ quốc gia của một nước theo một giá cả nhất định. Vì vậy, giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia gọi là tỷ giá hối đoái”. (Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh, 2010) Khái niệm 2: Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở một khía cạnh khác, đó là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau theo tiêu chuẩn nào đó.
Trong chế độ bản vị vàng, tiền tệ trong lưu thông là tiền đúc bằng vàng và giấy bạc ngân hàng được tự do đổi ra vàng căn cứ vào hàm lượng vàng của nó. Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh hai đồng tiền vàng của hai nước với nhau hoặc là so sánh Luận văn thạc sĩ Viện đại học mở 7 Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá bao gồm các loại: + Tỷ giá mua vào (Bid Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá. + Tỷ giá bán ra (Ask Rate): Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá. + Tỷ giá giao ngay (Spot Rate): Là tỷ giá được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu thị trường, luôn có sẵn, được thỏa thuận ngày hôm nay, việc thanh toán xảy ra sau hai ngày làm việc tiếp theo.
+ Tỷ giá phái sinh: Gồm các tỷ giá áp dụng trong các hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi, tương lai và quyền chọn. + Tỷ giá chéo: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba. Ngoài ra còn có các tỷ giá mở cửa, tỷ giá đóng cửa, tỷ giá tiền mặt, tỷ giá chuyển khoản. Các ngày giá trị trong Kinh doanh ngoại hối Trong các hợp đồng ngoại hối, ngày ký kết hợp đồng (Contract Date - CD) và ngày các bên tham gia thực sự thanh toán cho nhau thường là khác nhau.
Ngày mà các bên tham gia hợp đồng thanh toán thực sự cho nhau gọi là ngày giá trị (Value Date – VD). Ngày giá trị quan trọng nhất trên TTNH là ngày giá trị giao ngay (Spot Value Date – SVD). Theo thông lệ thì ngày giá trị giao ngay là ngày làm việc thứ hai sau ngày ký kết hợp đồng. Nếu gọi ngày ký kết hợp đồng là J, thì ngày giá trị giao ngay là: SVD = J+2 (trong đó số 2 là hai ngày làm việc).
Nếu lấy ngày giá trị giao ngay làm mốc thì trên TTNH còn có các ngày giá trị sau: - Ngày giá trị kì hạn (Forward Value Date – FVD): Những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị xa hơn ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch kì hạn. Theo thông lệ, ngày giá trị kì hạn là ngày làm việc thứ hai sau ngày hợp đồng kì hạn đến hạn. Nếu hợp đồng kì hạn có thời hạn là n ngày (n ≥1) thì ngày giá trị kì hạn là: FVD = (J+n) +2 - Ngày giá trị ngày mai (Tomorrow Value Date – TOM): Những giao dịch Luận văn thạc sĩ Viện đại học mở 8 ngoại hối có ngày giá trị sớm hơn một ngày so với ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch có ngày giá trị ngày mai (J+1). - Ngày giá trị hôm nay (Today Value Date – TOD): Những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị sớm hơn hai ngày so với ngày giá trị giao ngay gọi là giao dịch có ngày giá trị hôm nay.
Như vậy, giao dịch có ngày giá trị hôm nay là giao dịch có ngày giá trị ngay trong ngày kí kết hợp đồng, nên người ta còn gọi là ―same day value date = J. Đặc trưng cơ bản của hoạt động kinh doanh ngoại hối Thứ nhất, hoạt động KDNH là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Một trong những đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động KDNH nói riêng là chứa đựng rất nhiều rủi ro. Các rủi ro đó có thể khái quát thành các loại sau: - Rủi ro thanh toán: Đây là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không có đủ vốn để thực hiện các cam kết thanh toán của mình trong trường hợp khoản huy động vốn đến hạn trả nợ hoặc khi khách hàng có yêu cầu thanh toán.
- Rủi ro hoạt động: Đây là rủi ro gây ra bởi các yếu tố phi tài chính, nó bao gồm rủi ro hệ thống, rủi ro gây ra bởi yếu tố con người (ví dụ như vô tình hay cố ý viết sai xác nhận, thanh toán nhầm, hạch toán thiếu. - Rủi ro tín dụng: Là rủi ro xảy ra khi khách hàng không thực hiện các cam kết thanh toán của mình trong ngày hiệu lực hoặc khách hàng huỷ hợp đồng đã ký. - Rủi ro thị trường: Đây là rủi ro chính, thường trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động KDNH của ngân hàng. Loại rủi ro này xảy ra khi ngân hàng đang giữ một trạng thái ngoại tệ hay một trạng thái luồng tiền nào đó mà tỉ giá và lãi suất lại có những biến động không thuận chiều.
Cụ thể như sau: Rủi ro về tỉ giá: Nó sẽ xuất hiện khi ngân hàng có trạng thái của một ngoại tệ nào đó thừa hoặc thiếu. Khi ngoại tệ này lên giá thì trạng thái ngoại tệ thừa sẽ có lợi, còn trạng thái ngoại tệ thiếu sẽ bị lỗ và ngược lại. Trong quá trình mua bán hàng ngày, trạng thái ngoại tệ này luôn biến động nên ngân hàng luôn có khả năng gặp rủi ro do sự biến động của tỉ giá. Luận văn thạc sĩ Viện đại học mở 9 Rủi ro về lãi suất: So với rủi ro về tỉ giá, rủi ro về lãi suất ít có ý nghĩa hơn nhưng với khối lượng kinh doanh lớn thì cũng tạo ra những thiệt hại đáng kể.
Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường thay đổi, làm phát sinh lãi hoặc lỗ đối với hoạt động KDNH. Để phòng ngừa rủi ro thị trường, các NHTM thường sử dụng các công cụ thị trường phái sinh như các hợp đồng kì hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn để làm cân bằng trạng thái luồng tiền và cố định các mức tỉ giá và lãi suất giao dịch. Thứ hai, KDNH là một hoạt động phức tạp, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường hiện đại. Hoạt động này đòi hỏi phải có đầy đủ cơ sở vật chất, các thiết bị hiện đại, các phương tiện thông tin liên lạc tân tiến mới mong đạt được phát triển kinh doanh cao.
Thứ ba, KDNH là hoạt động đòi hỏi nhà kinh doanh phải có đủ chuyên môn về nhiều lĩnh vực, phải có những kĩ năng nhất định, phải có trình độ quản lý và khả năng nắm bắt thị trường một cách linh hoạt. Nhà kinh doanh phải có trí tuệ cao cùng với những nỗ lực thường xuyên để xác định những gì xảy ra trên thị trường và tỉ giá sẽ biến động theo hướng nào. Vai trò của Kinh doanh ngoại hối đối với Ngân hàng thương mại Cũng giống như thương mại quốc tế, du lịch quốc tế, đầu tư quốc tế, quan hệ tín dụng quốc tế và các quan hệ tài chính quốc tế khác đều làm phát sinh nhu cầu mua bán các đồng tiền khác nhau trên thị trường. Chính vì thế, quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu càng diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh giữa các NHTM càng gay gắt thì vai trò của TTNH càng trở nên quan trọng.