CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại Chất lượng là một khái niệm quen thuộc đối với con người nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về chất lượng mà tùy thuộc vào từng đối tượng sử dụng thì khái niệm chất lượng có những ý nghĩa khác nhau. Theo Tổ chức Quốc Tế về tiêu chuẩn hóa ISO, chất lượng là khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và các bên có liên quan của một sản phẩm dịch vụ. Parasuraman và các cộng sự (1985), chất lượng dịch vụ là sự đánh giá tổng thể về dịch vụ và được đo lường bằng khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng và thực tế dịch vụ nhận được. Theo Saiful Islam và Md.
Borak Ali (2011), chất lượng dịch vụ gắn liền với sự kỳ vọng, thái độ, đánh giá của khách hàng. Đánh giá chất lượng theo quan điểm trên đối với tín dụng thì chất lượng tín dụng là khả năng đáp ứng yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan của sản phẩm dịch vụ tín dụng ngân hàng. Đánh giá chất lượng tín dụng theo định nghĩa này giúp cho các nhà quản trị ngân hàng nhìn nhận được điểm yếu, điểm mạnh các sản phẩm dịch vụ tín dụng ngân hàng để có những cải tiến thích hợp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng. Trong khi đó, theo Nguyễn Văn Tiến (2003) chất lượng tín dụng hay chất lượng cho vay được dùng để phản ánh mức độ rủi ro trong danh mục cho vay của một tổ chức tín dụng.
Đánh giá chất lượng tín dụng theo quan điểm này giúp các nhà quản trị ngân hàng thấy được những rủi ro hiện có trong danh mục cho vay hiện tại để có những giải pháp thích hợp nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng và là tiền đề nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Vì vậy, nhìn nhận theo cả hai quan điểm thì chất lượng tín dụng của ngân hàng được đánh giá thông qua khả năng đáp ứng yêu cầu khách hàng của sản phẩm dịch vụ 123doc 2 tín dụng và rủi ro của danh mục tín dụng. Hoạt động tín dụng có chất lượng tốt là hoạt động đáp ứng được yêu cầu của khách hàng (đo lường thông qua sự hài lòng của khách hàng, tăng trưởng số dư tín dụng…) nhưng vẫn đảm bảo các chỉ tiêu về an toàn tín dụng (tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu…).2 Các tiêu chí đánh giá về chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Sự hài lòng của khách hàng về sản phẩm dịch vụ tín dụng Để đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu khách hàng của một sản phẩm dịch vụ, các nhà nghiên cứu trên thế giới thường sử dụng mô hình đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ năm khoảng cách của Parasuraman và các cộng sự (1985). Mô hình này đánh giá chất lượng một sản phẩm dịch vụ thông qua việc đo lường khoảng cách giữa thực trạng sản phẩm, dịch vụ được cung cấp và sự mong đợi của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ đó.
Parasuraman và các cộng sự (1985) cho rằng có các khoảng cách tồn tại giữa sự kỳ vọng của khách hàng và những cảm nhận thực tế về sản phẩm, dịch vụ mà họ nhận được. Các khoảng cách bao gồm: Khoảng cách 1: Là sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ và nhận thức của nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ về kỳ vọng này của khách hàng. Nguyên nhân của sự khác biệt này là do công ty cung cấp sản phẩm, dịch vụ không hiểu biết được những đặc điểm nào của sản phẩm, dịch vụ là cần thiết, là sự kỳ vọng nhận được của khách hàng. Khoảng cách 2: Là sự khác biệt giữa những nhận thức về kỳ vọng của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của nhà cung cấp và những đặc tính của sản phẩm, dịch vụ của nhà cung cấp.
Nguyên nhân của sự khác biệt này là do sự hạn chế về nguồn lực (con người, cơ sở vật chất, máy móc…) nên các đặc tính sản phẩm, dịch vụ được cung cấp chưa đáp ứng được những kỳ vọng của khách hàng theo các nhận thức của nhà cung cấp. Khoảng cách 3: Là sự khác biệt giữa những đặc tính sản phẩm, dịch vụ của nhà 123doc 3 cung cấp với thực tế sản phẩm, dịch vụ cung cấp đến khách hàng. Nguyên nhân của sự khác biệt này là do thiếu sự chuẩn mực trong quá trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ khiến cho các sản phẩm, dịch vụ cung cấp có sự khác biệt so với các tiêu chí đã được xác định của sản phẩm, dịch vụ. Khoảng cách 4: Là sự khác biệt giữa thông tin của khách hàng về đặc tính của sản phẩm, dịch vụ so với sản phẩm, dịch vụ thực tế khách hàng nhận được.
Nguyên nhân của sự khác biệt này là do sự truyền tải chưa đầy đủ, chính xác thông tin về sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng. Khoảng cách 5: Là sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ và cảm nhận thực tế của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ đó. Sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt là sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được kỳ vọng của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ đó. 123doc 4 Thông tin từ các Nhu cầu cá nhân Kinh nghiệm trong nguồn khác nhau quá khứ Sự kỳ vọng dịch vụ Khoảng cách 5 Sự cảm nhận dịch vụ KHÁCH HÀNG Khoảng cách 4 NHÀ CUNG CẤP Chuyển giao dịch vụ Thông tin đến khách hàng Khoảng cách 3 Chuyển đổi cảm nhận của doanh Khoảng cách 1 nghiệp thành tiêu chí chất lượng dịch vụ Khoảng cách 2 Nhận thức của doanh nghiệp về sự kỳ vọng của khách hàng Hình 1.1 Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự Nguồn: Parasuraman và cộng sự (1985) Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng chất lượng sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào độ lớn của khoảng cách thứ 5 và khoảng cách thứ 5 này là biến phụ thuộc vào các biến độc lập là các khoảng cách 1, 2, 3, 4.
Mô hình nghiên cứu chất lượng sản phẩm, dịch vụ có thể được biểu diễn là: 123doc 5 Khoảng cách 5= f(Khoảng cách 1, Khoảng cách 2, Khoảng cách 3, Khoảng cách 4) Mô hình chất lượng sản phẩm, dịch vụ năm khoảng cách là mô hình tổng quát, mang tính chất lý thuyết về chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Parasuraman và các cộng sự (1988) đã xây hình mô hình đo lường chất lượng sản phẩm dịch vụ (SERVQUAL) gồm 5 nhân tố cơ bản như sau: 1. Sự tin cậy (reliability): Đánh giá khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ kịp thời, đúng thời hạn, chính xác ngay từ lần đầu tiên. Sự đáp ứng (responsiveness): Đánh giá khả năng sẵn sàng cung cấp sản phẩm, dịch vụ của nhà cung cấp.
Sự đảm bảo (assurance): Đánh giá sự chuyên nghiệp, khả năng bảo mật khi cung cấp sản phẩm, dịch vụ của nhà cung cấp. Sự cảm thông (empathy): Đánh giá sự cảm thông, chia sẻ, cung cấp sản phẩm, dịch vụ vì lợi ích của khách hàng. Sự hữu hình (tangibles): Đánh giá tiện nghi, cơ sở vật chất của nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ. Mô hình SERVQUAL là mô hình đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ đã được kiểm định ở nhiều lĩnh vực dịch vụ, bán lẻ… và được nhiều nhà nghiên cứu tin tưởng sử dụng.2 Tăng trưởng tín dụng và phân loại nợ Tăng trưởng số dư tín dụng Số dư tín dụng, hay cụ thể hơn trong trường hợp này là dư nợ cho vay, thể hiện quy mô hoạt động tín dụng, cho vay của ngân hàng.
Số dư tín dụng cao, tăng trưởng liên tục, ổn định qua các năm cho thấy phần nào sự đánh giá cao của khách hàng đối với sản phẩm tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, để có sự đánh giá tốt hơn về tình hình tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thì cần so sánh tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng với tốc độ tăng trưởng chung của toàn hệ thống các ngân hàng thương mại. Tốc độ tăng trưởng tín dụng được tính như sau: 123doc 6 Số dư tín dụng cuối kỳ − Số dư tín dụng đầu kỳ Tốc độ tăng trưởng tín dụng = Số dư tín dụng đầu kỳ Phân loại nợ Quan điểm của Thế Giới Mỗi một tổ chức, quốc gia trên Thế giới đều có những quy định, quy ước về phân loại nợ khác nhau. Theo Krueger (2002), quan điểm phân loại nợ của một số tổ chức, quốc gia trên Thế giới như sau: Tổ chức tài chính quốc tế (Institute of International Finance) phân loại các khoản nợ ngân hàng thành năm nhóm, bao gồm: Nợ đủ tiêu chuẩn: Các khoản nợ trong hạn, chưa có dấu hiệu gặp khó khăn trong thanh toán và được kỳ vọng hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi.
Nợ cần chú ý: Những khoản nợ có những biểu hiện làm tăng lên sự lo lắng về việc hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi, yêu cầu nhân viên tín dụng phải có nhiều sự chú ý hơn thông thường. Nợ dưới tiêu chuẩn: Những khoản nợ không đảm bảo khả năng hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi do thiếu bảo đảm nợ vay và/hoặc nợ gốc và lãi đã quá hạn trên 90 ngày. Nợ nghi ngờ: Những khoản nợ gốc và lãi đã quá hạn 180 ngày, khả năng trả nợ đã suy giảm nhưng vẫn còn khả năng thu hồi một phần nợ vay. Nợ mất vốn: Những khoản nợ gốc và lãi đã quá hạn một năm và được đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ vay.
Tại Nhật Bản, các ngân hàng phân loại các khoản nợ thành bốn nhóm, bao gồm: Nhóm 1: Là các khoản nợ không có những vấn đề về khả năng thu hồi nợ. Nhóm 2: Là các khoản nợ có rủi ro thu hồi nợ cao hơn bình thường do những khó khăn trong việc thực hiện các điều kiện hợp đồng, hoặc do những lo lắng về rủi ro tín dụng của khách hàng. Yêu cầu trích lập dự phòng 15%. Nhóm 3: Là những khoản nợ quá hạn thanh toán, có khả năng phát sinh tổn thất cao nhưng khó có thể đánh giá thời điểm và mức độ tổn thất.
Yêu cầu trích lập dự 123doc 7 phòng 70%. Nhóm 4: Là những khoản nợ được đánh giá không thể thu hồi.