Chương 1: Rủi ro TD, rủi ro TD tai Ngân hàng Thương Mại. - _ Chương 2: Thực trạng công tác hạn chế rủi ro TD tai Ngan hang TMCP. Tiên phong Bank ~ chỉ nhánh Phạm Hùng. - _ Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro TD tại Ngân hàng TMCP Tiên phong Bank — chỉ nhánh Phạm Hùng.
CHUONG 1: RUI RO TÍN DUNG VÀ HẠN CHÉ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tín dụng Ngân hàng 1.L1 Khái niệm * Khái niệm tín dụng. Quan hệ tín dụng hình thành từ quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tượng dư thừa, thiết hụt vốn thường diễn ra trong nền kinh tế. Theo tai liệu nghiên cứu của các nhà sử học và kinh tế học, hoạt động vay mượn hay cho vay lấy lãi tồn tại trong khoảng thời gian 2000 - 1500 năm trước. Thậm chí, hoạt động tín dụng xuất hiện trước sự ra đời của các ngân hàng.
Tín dụng có nguồn gốc từ tiếng La tỉnh- Creditum tức là sự tín dụng, tín nhiệm, hay nói khác đi là sử dụng sự tin tưởng tín nhiệm đó để thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian nhất định. Tin dung (Credit) là “Sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị tài sản từ những. người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định; khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”. 'Như vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính là: + Tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị + Tính thời hạn + Tính hoàn trả Khái niệm tín dụng có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ.
Tín dụng là sự trao đổi các tài sản hiện tại dé nhận các tài sản cùng loại trong tương lai. Tín dụng là quan hệ mua bán quyền sử dụng vốn, giá cả là lãi suất. Tín dụng là quan hệ kinh tế, theo đó một người thoả thuận để người khác sử dụng số tiền hay tài sản của mình trong một thời gian nhất định với các điều kiện có hoàn tra von và lãi. Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được quốc hội thông qua ngày 16/06/2010 có hiệu lực ngày 01/01/2011 quy định “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tô chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng.
một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho. thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tin dung khác”. Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng có nhiều loại như: Tín dụng doanh nghiệp, cá nhân, tín dụng ngân hàng, thương mại, nhà nước.
* Quan điểm về tín dụng Ngân hang Để đưa ra được một khái niệm về NHTM, người ta thường phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết hợp. tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Xuất phát từ đặc điềm trên, Luật Ngân hàng của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra những khái niệm khác nhau về NHTM. Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhng phân tích khai thác nội dung của các khái niệm đó, ta đễ dàng nhận thấy các NHTM đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh khác của chính ngân hàng.
Ở việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng. Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp, đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh nghiệp, không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau, bình đăng. trước pháp luật.
Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tắt yếu sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tô chức tín dụng khác. Để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân hàng và các tô chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân. Việc đưa ra khái niệm về NHTM là hết sức cần thiết. Theo luật các tổ chức tín dụng 47/2010/QH12 có hiệu lực ngày 01/01/2011 quy định “Tô chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tắt cả các hoạt động ngân hàng.
Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hang, tổ chức tài chính vi mô và quỳ tín dụng nhân dân:. Trong đó “Ngân hàng. thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tắt cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hảng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc.
một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; ©) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế đề cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Từ định nghĩa chung về NHTM trên, căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động pháp lệnh còn chỉ rõ các loại hình ngân hàng gồm: NH Thương mại, NH Phát triển, NH Đầu tư, NH Chính sách, NH Hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thê khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung.
gian tài chính luân chuyên vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu. khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng. phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay. Chủ thể tham gia trong quan hệ TDNH là ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp và hộ dân cư.
Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do. đó, nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phương đa chiều. Đây chính là ưu điểm nỗi bật và là đặc điểm khác biệt giữa TDNH với các loại hình tín dụng khác.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng có năm đặc điểm sau: Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin. Ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng khi đã có niềm tin khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích.
Hoạt động sản suất kinh doanh có hiệu quả và có khả năng hoàn trả cả gốc, lãi đúng hạn. Thứ hai: Chuyên nhượng tài sản có thời hạn. Ngân hàng thường căn cứ vào phương án vay vốn, kế hoạch kinh doanh, vòng quay vốn của khách hàng để tính toán xác định thời hạn vay vốn để đảm bảo khách hàng có đủ nguồn thu để trả nợ đúng hạn. Thứ ba: Nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Tín dụng ngân hàng là sự thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tải sản của ngân hàng với nguyên tắc có hoàn trả, do vậy đến thời hạn thanh toán, khách hàng phải trả đầy đủ tài sản đã mượn của. ngân hàng đó là tiền gốc. Còn giá trị của quyền sử dụng tài sản ngân hàng đó chính. Do đó mà khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Thứ te: Tin dung ngan hang tiềm ẩn rủi ro cao, việc thu hồi nguồn vốn phụ thuộc nhiều yếu tố như điều kiện kinh doanh thực tế không đúng như phương án kinh doanh, môi trường kinh tế có sự thay đổi ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, cán bộ thẩm định không thẩm định đúng, không chuẩn theo quy trình hồ sơ vay.cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro gây thất thoát tài sản của ngân hàng. Thứ năm: Tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. phải đảm bảo hoàn trả vô điều kiện tài sản của ngân hàng khi đến hạn.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong hoạt động của nền kinh tế quốc dân a) Đối với nền kinh tế Sản xuất phát triển mạnh sẽ thúc đây nền kinh tế hàng hoá phát triển ở mỗi quốc gia trên thế giới. Song đề cho quá trình sản xuất được mở rộng và ngày càng hoàn thiện phải nói đến vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng.
Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế là người trung gian điều hoà quan hệ cung cầu về vốn trong nên kinh tế, hoạt động tín dụng đã thông dòng cho vốn chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn. -_ Tín dụng ngân hàng thúc đây việc sử dụng vốn có hiệu quả và củng cố chế độ hoạch toán kinh tế. Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại. -_ Tín dụng ngân hàng đóng vai trò luân chuyển vốn từ những người (cá nhân, hộ gia đình công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư (do chỉ tiêu ít hơn thu nhập đến những người tiêu thụ hụt (do nhu cầu chỉ tiêu vượt quá thu nhập).
Đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục. ~_ Giúp phân bô hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế thông qua tín dụng ngân hàng. Giúp tạo công ăn việc làm và nâng cao năng suất lao động. - _ Cơ cấu lại các ngành kinh tế một cách hiện đại và hợp lý hơn nhờ thúc day đầu tư vốn tín dụng vào các ngành, khu vực kinh tế trọng điểm mà chính sách của Nhà nước đang hướng tới.
-_ Giúp điều tiết thị trường, kiểm soát giá trị đồng tiền, và thúc đây quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa các nước. - Théng qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của Chính Phủ, giúp tăng nguồn thu Ngân sách nhà nước.