CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng nói chung được hiểu là mối quan hệ kinh tế. Trong quan hệ này, người sở hữu sẽ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) cho người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định sau đó thu hồi một lượng giá trị lớn hơn giá trị chuyển nhượng ban đầu (Tô Ngọc Hưng, 2019).
Nhìn ở góc độ hẹp hơn, tín dụng ngân hàng thể hiện mối quan hệ giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, hoặc chủ thể khác). Ngân hàng có nhiệm vụ chuyển giao quyền sở hữu tiền hoặc hàng hóa cho bên đi vay trong khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận giữa hai bên về tài sản đảm bảo, phương thức thanh toán. Bên đi vay có nghĩa vụ hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán (Tô Ngọc Hưng, 2019). Theo luật tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác”.
Phân loại tín dụng ngân hàng Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo một tiêu thức nhất định. Việc phân loại tín dụng mang lại nhiều hiệu quả trong quá trình quản lý các khoản tín dụng, kế hoạch hóa vốn và sử dụng vốn, gắn quá trình cấp vốn phù hợp với luân chuyển vật tư hàng hóa. Các khoản vay thường được phân loại theo các tiêu thức dưới đây: 1. Căn cứ theo thời hạn cho vay Đây được xem là tiêu thức mà các ngân hàng thường xuyên sử dụng nhất.
Thời hạn cho vay được xác định từ lúc ngân hàng giải ngân đến lúc thu hồi hết vốn. Tiêu thức này chia tín dụng thành ba loại: a. Tín dụng ngắn hạn Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn tối đa một năm, thường được sử dụng với mục đích bổ sung vốn lưu động bù đắp thiếu hụt tạm thời của các doanh 5 nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Tín dụng ngắn hạn bao gồm các hình thức chiết khấu, ứng trước trên tài khoản, thấu chi.
Rủi ro ở loại tín dụng này thường thấp và ít khi xảy ra vì trong thời gian ngắn ít biến động hoặc nếu có biến động thì ngân hàng có thể dự tính trước được (Tô Ngọc Hưng, 2019). Tín dụng trung hạn Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ trên từ một năm đến tối đa là năm năm. Hình thức tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng cho mục đích đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Tín dụng trung hạn bao gồm hai hình thức: Cho vay theo dự án và cho thuê tài chính.
Rủi ro ở loại hình tín dụng này không cao vì ngân hàng có khả năng lường trước được những biến động xảy ra trong thời gian này (Tô Ngọc Hưng, 2019). Tín dụng dài hạn Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử dụng vào mục đích chủ yếu đầu tư hình thành mới tài sản cố định, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng quy mô sản xuất và thời hạn thu hồi vốn dài.Tín dụng dài hạn cũng bao gồm hai hình thức như tín dụng trung hạn (Tô Ngọc Hưng, 2019). Căn cứ theo mục đích sử dụng a. Tín dụng sản xuất và kinh doanh hàng hóa Đây là loại tín dụng cấp cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành quá trình sản xuất và kinh doanh.
Khách hàng có thể sử dụng khoản vay để chi trả chi phí sản xuất, chi phí nguyên vật liệu, mở rộng kinh doanh, trả lương nhân viên,. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh; tạo động lực phát triển và tăng tính cạnh tranh so với các đối thủ trong ngành (Tô Ngọc Hưng, 2019). Tín dụng tiêu dùng Đây là một loại hình cho vay nhằm giải quyết những nhu cầu vốn phục vụ cho tiêu dùng của khách hàng là các hộ gia đình và cá nhân như: mua sắm sửa chữa nhà ở, ô tô, du lịch, du học. Tín dụng tiêu dùng giúp đời sống trong dân cư được cải thiện, phục vụ nhu cầu tiêu dùng khi khách hàng không có đủ khả năng tài chính (Tô Ngọc Hưng, 2019).
Tín dụng có bảo đảm Trước khi cho vay ngân hàng yêu cầu người đi vay phải có tài sản đảm bảo hoặc bên thứ ba bảo lãnh cho khoản vay. Tài sản đảm bảo có thể là bất động sản như nhà cửa, xe cộ, đất đai. hoặc động sản như các loại giấy tờ có giá. Tài sản đảm bảo giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như trong hợp đồng tín dụng.
Tuy nhiên hình thức tín dụng này có thể gặp rủi ro khi tài sản đảm bảo mất giá, hay bên thứ ba không thực hiện nghĩa vụ của mình. Tín dụng không bảo đảm Trái với tín dụng có bảo đảm, loại tín dụng này không yêu cầu tài sản đảm bảo hay sự bảo lãnh từ bên thứ ba mà dựa hoàn toàn vào bản thân khách hàng. Thông thường, loại tín dụng này được cấp cho khách hàng lâu năm, khách hàng vay chủ yếu của ngân hàng hay các khách hàng có vị thế cao trong xã hội. Những khách hàng đó có khả năng quản lý tốt, các sản phẩm dịch vụ được thị trường sẵn sàng chấp nhận, lợi nhuận ổn định với tình hình tài chính vững mạnh.
Họ không ngần ngại cung cấp cho ngân hàng các báo cáo tài chính để ngân hàng theo dõi sự tiến bộ của họ. Với điều kiện như vậy, ngân hàng sẽ chấp nhận cho vay không có đảm bảo. Không chỉ những doanh nghiệp mà còn có cả các cá nhân cũng được hưởng đặc quyền này. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả a.
Tín dụng trả góp Khi được cấp loại tín dụng này, khách hàng được yêu cầu hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ. Việc trả nợ được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng theo tháng, quý, nửa năm hoặc cả năm. Điều này giúp giảm bớt gánh nặng đối với những khoản vay lớn, hay đối với khách hàng có tình hình tài chính không được tốt (Tô Ngọc Hưng, 2019) Đặc biệt trong đầu tư bất động sản, người ta thường áp dụng theo phương thức này do nguồn thu từ bất động sản thường là tiền thuê nhà mà tiền thuê nhà người ta cũng trả theo tháng, quý, năm. Tín dụng phi trả góp Tín dụng phi trả góp là loại tín dụng yêu cầu người đi vay thực hiện thanh toán 7 toàn bộ một lần khi đáo hạn (Tô Ngọc Hưng, 2019).
Loại tín dụng này giúp giảm thiểu các chi phí cũng như rủi ro cho ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, lại không có lợi cho khách hàng khi phải trả cả gốc và lãi vay cùng một lúc nhất là khi các cá nhân, doanh nghiệp đi vay gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh.Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu Khi được cấp loại tín dụng này, người đi vay có thể hoàn trả nợ nhiều lần bất kỳ khi nào có thu nhập (Tô Ngọc Hưng, 2019). Đây là loại tín dụng phù hợp với các khách hàng có thu nhập không ổn định hoặc các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường. Khách hàng có thể chủ động sắp xếp kế hoạch sử dụng vốn vay, thời gian trả nợ,.
Tuy nhiên, ngân hàng có thể gặp rủi ro lớn khi cấp loại tín dụng này do quyết định thanh toán khoản vay phụ thuộc phần lớn vào khách hàng. Căn cứ hình thái giá trị cấp tín dụng ngân hàng a. Tín dụng bằng tiền Người vay sẽ được ngân hàng cấp tín dụng bằng tiền mặt để bù đắp thiếu hụt về vốn trong sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng cá nhân. Khi được cấp tín dụng bằng tiền, các khách hàng là doanh nghiệp có thể bổ sung nguồn vốn, chủ động đầu tư về máy móc, trang thiết bị phục vụ quá trình sản xuất phù hợp với doanh nghiệp mình.
Đối với khách hàng cá nhân, tín dụng bằng tiền góp phần nâng cao, cải thiện đời sống trong dân cư. Tín dụng bằng hiện vật Khi cấp tín dụng này cho khách hàng, ngân hàng sẽ mua tài sản và cung cấp cho khách hàng. Các hình thức tín dụng bằng hiện vật bao gồm: Cho thuê tài chính, cho thuê hoạt động. Khách hàng được cấp tín dụng này thường là các doanh nghiệp.
Tín dụng hiện vật sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hiện đại hóa sản xuất, áp dụng công nghệ mới khi nguồn vốn chủ sở hữu có hạn. Các nguyên tắc của tín dụng ngân hàng 1. Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích đã cam kết trong hợp đồng tín dụng ngân hàng Khoản vay phải được khách hàng sử dụng đúng mục đích như trong hợp đồng tín dụng vì khi thẩm định hồ sơ, ngân hàng chỉ đánh giá tính hiệu quả và khả thi của phương án, dự án sản xuất kinh doanh do người vay đề xuất. Vì vậy, khi khách hàng 8 thay đổi mục đích sử dụng vốn thì NHTM không thể đánh giá được tính hiệu quả và khả thi của phương án.
Khi đó, vốn vay không được sử dụng hiệu quả hoặc thời hạn hoàn trả bị quá hạn. Việc xác định các chỉ tiêu về thời hạn, giá trị cho vay, lãi suất được căn cứ trên tính chất luân chuyển của tài sản hình thành từ vốn vay. Vì vậy, khi thay đổi mục đích sử dụng vốn các chỉ tiêu đó có thể không phù hợp, ảnh hưởng lớn tới khả năng thu hồi nợ của ngân hàng (Tô Ngọc Hưng, 2019). Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn cam kết trong hợp đồng tín dụng ngân hàng Đây là nguyên tắc quan trọng hơn cả vì nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là vốn đi vay từ bên ngoài, đến hạn ngân hàng cũng phải trả gốc và lãi cho người gửi tiền.
Nếu trong quá trình sản xuất kinh doanh khách hàng không hoàn trả khoản vay đúng hạn thì ảnh hưởng tới khả năng thanh toán cũng như thu nhập của ngân hàng.