CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh “Cạnh tranh” là một khái niệm xuất phát từ nền sản xuất hàng hóa, tuy nhiên cho đến nay được sử dụng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái; thường xuyên được nhắc tới trong các diễn đàn kinh tế cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh cụ thể như sau: Theo K.Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch” (Hội đồng Trung Ương chỉ đạo giáo trình quốc gia, 2014, tr. LV quản trị kinh doanh Theo hai nhà kinh tế học Mỹ P.
Nordhaus: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng và thị trường” (Paul A. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh là hoạt động ganh đua hoặc tranh giành ít nhất giữa hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sản phẩm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tối đa” (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn, 2005, tập 1, tr. Theo Michael Porter thì cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Michael E. Từ những quan điểm trên khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: 8 Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau thông qua các hành động, nỗ lực và biện pháp để đạt được mục tiêu của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, khu vực thị trường có lợi nhất, qua đó giành lấy thị phần và tối đa hóa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích tiêu dùng 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế thị trường ngày nay. Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh, có thể dẫn ra một số quan điểm như sau: Theo Aldington Report doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dic ̣h vu ̣với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế.
Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp (Aldington Report, 1985). LV quản trị kinh doanh Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về năng lực cạnh tranh cố gắng kết hợp cả doanh nghiệp, ngành, quốc gia: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (Nguyễn Viết Lâm, 2014, tr. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ” (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn, 2005, tập 3, tr. Từ những quan điểm trên có thể hiểu năng lực cạnh tranh như sau: Năng lực cạnh tranh là sự thể hiện thực lực và lợi thế của chủ thể kinh tế nhằm chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, đạt được lợi ích lâu dài, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị thế so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Các cấp độ năng lực cạnh tranh Khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh, người ta thường xem xét, phân biệt năng lực cạnh tranh theo bốn cấp độ: Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã nêu ra trong báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể năm 1997 “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” (Diễn đàn kinh tế thế giới WEF, 1997, p. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã chọn tám nhân tố thể hiện năng lực cạnh tranh quốc gia để đánh giá như sau: Mức độ mở của của nền kinh tế; Vai trò Chính LV quản trị kinh doanh phủ; Tài chính – Tiền tệ; Kết cấu hạ tầng; Công nghệ, nghiên cứu và triển khai; Quản lý của doanh nghiệp; Lao động; Thể chế. Năng lực cạnh tranh quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững.
Trên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của một quốc gia phản ánh từng khía cạnh cụ thể khác nhau được đề cập trong các khái niệm đã nêu. Một số quan điểm cho rằng năng lực cạnh tranh quốc gia là sức cạnh tranh dựa vào yếu tố sản xuất như vốn, lao động, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Hay một số quan điểm khác cho rằng năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế hay đơn thuần là sự phản ánh thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được thể hiện thông qua các chỉ tiêu về trình độ công nghệ, môi trường kinh tế vĩ mô về tài chính và mức độ hội nhập quốc tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm và môi trường kinh doanh.
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng thể hiện qua các yếu tố về công nghệ kỹ thuật, 10 môi trường kinh tế vĩ mô về tài chính, sự hội nhập quốc tế và vai trò của chính phủ tác động trực tiếp đến bốn yếu tố cơ bản của môi trường kinh doanh: Chiến lược của doanh nghiệp; cơ cấu và sự cạnh tranh; các điều kiện về cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; các điều kiện về yếu tố sản xuất. Năng lực cạnh tranh cấp ngành Theo United Nations, năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng sinh lời của các doanh nghiệp trong ngành, cán cân thương mại của ngành, cán cân đầu tư nước ngoài (đầu tư ra nước ngoài và đầu tư từ nước ngoài vào) và những thước đo trực tiếp về chi phí và chất lượng ở cấp ngành (United Nations, 2001). Theo Franziska Blunck, năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các doanh nghiệp trong ngành so với các đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp (Franziska Blunck, 2015). Theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát LV quản trị kinh doanh triển kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Tuy là định nghĩa của cấp ngành, nhưng OECD đã gắn với điều kiện cạnh tranh quốc tế và định nghĩa này rất hợp lý trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Như vậy, năng lực cạnh tranh ngành là năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn và kết quả là tạo nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất. Năng lực cạnh tranh của một ngành thường xuyên vận động chứ không bất biến, cấu trúc của ngành luôn vận động, biến đổi. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc và thị trường ngày càng mở rộng thì cần có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được biểu hiện ở khả năng của doanh nghiệp trong việc duy trì và mở rộng thị phần, mức doanh lợi, lợi nhuận của doanh nghiệp trên thị trường trong nước, khu vực và thế giới. 11 Theo Fafchamps cho rằng: “Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng với chi phí thấp hơn thì có khả năng cạnh tranh cao hơn” (Peters G. Theo nhà quản trị Micheal Poter, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao (Michael E.
Hoặc năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp được hiểu là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế. Các định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng LV quản trị kinh doanh doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra được năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.