CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.Một số khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm cạnh tranh 1. Cạnh tranh “Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản, khái niệm này ñược sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới các góc ñộ khác nhau: Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith (1776) cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác. Ngược lại, chỉ có mục ñích lớn lao nhưng lại không có ñộng cơ thúc ñẩy thực hiện mục ñích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra ñược bất kỳ sự cố gắng lớn nào. Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế.
Khi nghiên cứu về cạnh tranh, K. Marx (1978) cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh ñua, sự ñấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những ñiều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa ñể thu lợi nhận siêu ngạch”. Theo Michael Porter (1985) thì “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp ñang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn ñến hệ quả giá cả có thể giảm ñi”. Kinh tế học của P. Samuelson (2000) ñịnh nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường ñể tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”. Mặc dù còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn ñạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các ñịnh nghĩa trên có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - Khi nói ñến cạnh tranh là nói ñến sự ganh ñua giữa nhiều chủ thể cùng tham dự nhằm giành lấy phần thắng về mình.
Qua quá trình cạnh tranh có thể nâng cao vị thế của chủ thể này và làm giảm vị thế của những chủ thể còn lại. - Mục ñích trực tiếp của cạnh tranh là một ñối tượng cụ thể nào ñó mà các bên ñều muốn giành giật như cơ hội SXKD, triển khai, phát triển một sản phẩm dịch vụ, một dự án hay một thị trường, khách hàng … với mục ñích cuối cùng là kiếm ñược lợi nhuận cao. - Quá trình cạnh tranh phải diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: ñặc ñiểm sản phẩm, thị trường, các ñiều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh. - Trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau nhằm ñạt ñược mục ñích của mình như : cạnh tranh bằng ñặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, tổ chức các kênh tiêu thụ, cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán.
Phân loại cạnh tranh Mặc dù, trên thực tế chưa có sự nhất trí giữa các học giả, các nhà chuyên môn về khái niệm và tiêu thức ñược sử dụng ñể phân loại cạnh tranh. Nhưng chung quy, căn cứ phổ biến thường ñược dùng ñể phân loại là các chủ thể tham gia trên thị trường, mức ñộ, tính chất cạnh tranh trên thị trường và phạm vi ngành kinh tế. Căn cứ vào các chủ thể tham gia trên thị trường, người ta có thể phân loại như sau: Thứ nhất là, cạnh tranh giữa người mua và người bán: ở hình thức cạnh tranh này hai chủ thể tham gia giao dịch ñể xác ñịnh giá cả của hàng hóa cần giao dịch. Hình thức cạnh tranh này rất phổ biến trên tất cả các thị trường sản phẩm dịch vụ và diễn ra theo qui luật “mua rẻ, bán ñắt”, người tiêu dùng luôn mong muốn mua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ñược các sản phẩm dịch vụ có chất lượng và giá cả hợp lý hay thấp nhất, còn người bán mong muốn bán ñược sản phẩm của mình ở mức giá cao nhất.
Thứ hai là, cạnh tranh giữa người mua với nhau: ñây là hình thức cạnh tranh diễn ra theo quy luật cung cầu. Chẳng hạn khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh giữa người mua với nhau trở nên quyết liệt, nó sẽ là yếu tố làm cho giá cả hàng hóa dịch vụ tăng lên và ngược lại người mua có lợi vì mua ñược hàng hoá dịch vụ với giá rẻ. Thứ ba là, cạnh tranh giữa người bán với nhau: Cạnh tranh giữa những người bán với nhau là cuộc cạnh tranh gay go quyết liệt nhất. ðây là cuộc cạnh tranh quyết ñịnh doanh nghiệp nào tồn tại và doanh nghiệp nào sẽ bị ñào thải ra khỏi thị trường.
Chính vì lẽ ñó tất cả các doanh nghiệp ñều muốn giành giật lợi thế cạnh tranh về mình, muốn giành một thế ñứng vững chắc hơn ñối thủ của mình. ðể làm ñược ñiều này ñòi hỏi mỗi một doanh nghiệp cần nỗ lực phấn ñấu, tìm ra hướng ñi riêng cho chính mình. Căn cứ vào hình thái và tính chất của cạnh tranh trên thị trường, cạnh tranh ñược phân chia như sau: Thứ nhất là, cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh mà ở ñó không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế thị trường, làm ảnh hưởng ñến giá cả. Cạnh tranh hoàn hảo ñược mô tả là một mẫu kinh tế thị trường lý tưởng: Tất cả các hàng hóa trao ñổi ñược coi là giống nhau, tất cả những người bán và người mua ñều có hiểu biết ñầy ñủ về các thông tin liên quan ñến việc mua bán - trao ñổi, không có gì cản trở việc gia nhập hay rút khỏi thị trường của người mua hay người bán.
ðể chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp phải tự tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của mình so với các ñối thủ khác. Thứ hai là, cạnh tranh không hoàn hảo: là một dạng cạnh tranh trong thị trường khi các ñiều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không ñược thỏa mãn. Các loại cạnh tranh không hoàn hảo gồm: ñộc quyền, ñộc quyền nhóm, cạnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tranh ñộc quyền, ñộc quyền mua, ñộc quyền nhóm mua. Trong thị trường cũng có thể xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo do những người bán hoặc người mua thiếu các thông tin về giá cả các loại hàng hóa ñược trao ñổi.
Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế, thì cạnh tranh có thể ñược phân loại như sau Thứ nhất là, cạnh tranh trong nội bộ ngành: ðây là hình thức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào ñó, trong ñó các Doanh nghiệp tìm cách thôn tính lẫn nhau, giành giật khách hàng về phía mình, chiếm lĩnh thị trường. Biện pháp cạnh tranh chủ yếu của hình thức này là cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao ñộng, giảm chi phí. Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành làm cho kỹ thuật phát triển, ñiều kiện sản xuất trong một ngành thay ñổi, giá trị hàng hóa ñược xác ñịnh lại, tỷ suất sinh lời giảm xuống và sẽ làm cho một số doanh nghiệp thành công và một số khác phá sản, hoặc sáp nhập. Thứ hai là, cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh tế khác nhau nhằm mục ñích ñầu tư có lợi hơn.
Biện pháp cạnh tranh của hình thức này là sự chuyển dịch vốn từ ngành có ít lợi nhuận hay không còn có lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận hơn, sự cạnh tranh này hình thành nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngành thông qua sự dịch chuyển vốn giữa các ngành với nhau. Vai trò của cạnh tranh Vai trò của cạnh tranh ñược thể hiện ở những mặt sau: Cạnh tranh ñảm bảo cho sự cân ñối giữa cung và cầu, tạo ñộng lực ñể các nguồn tài nguyên ñược sử dụng một cách tối ưu. Cạnh tranh thúc ñẩy cải tiến,khuyến khích áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cạnh tranh làm thỏa mãn tốt hơn cho nhu cầu ngày càng ña dạng của người tiêu dùng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Cạnh tranh thúc ñẩy sản xuất phát triển, thúc ñẩy tăng năng suất lao ñộng, và tạo ra hiệu quả kinh tế cao.
ðối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: Với mục tiêu tối ña hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp khi tham gia thị trường buộc phải chấp nhận cạnh tranh. Người tiêu dùng có quyền lựa chọn những gì mà mình yêu thích, những thứ mà họ cho là tốt nhất, phù hợp nhất. Cạnh tranh buộc các nhà sản xuất luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, ñáp ứng yêu cầu của khách hàng, của thị trường. Mặt khác, cạnh tranh có khả năng tạo ra một áp lực liên tục ñối với giá cả, buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn phương án sản xuất tối ưu với mức chi phí nhỏ nhất, chất lượng tốt nhất, công nghệ phù hợp nhất.
ðối với nền kinh tế và xã hội: ðối với toàn bộ nền kinh tế xã hội, cạnh tranh là ñộng lực phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao ñộng xã hội. Cạnh tranh loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí cao trong sản xuất, buộc các nhà sản xuất phải lựa chọn phương án sản xuất có chi phí thấp nhất. ðó cũng chính là qui luật: Cạnh tranh là ñộng lực, là bàn tay vô hình của thị trường (Adam Smith). Cạnh tranh tạo sự ñổi mới, mang lại sự tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm nguồn tài nguyên vốn ngày càng bị hạn chế.
Ngoài ra, cạnh tranh còn là ñộng lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách hài hoà, hợp lý giữa lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của toàn xã hội. Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ toàn những ưu ñiểm mà còn có cả những khuyết tật cố hữu. Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp quan tâm trước hết tới lợi ích của bản thân mình, không chú ý ñến việc giải quyết các vấn ñề xã hội. Cạnh tranh một mặt thúc ñẩy sản xuất phát triển, mặt khác cũng dẫn tới tình trạng phân hoá giàu nghèo, kẻ thắng người thua, dễ dàng ñưa tới tình trạng cạnh tranh không lành mạnh.