Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY VÀ HỌC KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NHÓM CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Nâng cao kỹ năng là một khâu quan trọng trong sự phát triển của hoạt động dạy học nói chung, trong quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho người học nói riêng. Để có được những hiểu biết về cách thức nâng cao kỹ năng trong quá trình dạy học hay quá trình dạy học tiếng Anh thì chúng ta cần nghiên cứu, tìm hiểu về cách thức học tập của con người, trên cơ sở đó lựa chọn ra những biện pháp phù hợp để tổ chức rèn luyện cho người học thuần thục một kỹ năng hay kỹ năng ngôn ngữ và nâng cao những kỹ năng đó.
Ngày nay, trên thế giới có nhiều tác giả lưu tâm trong vấn đề nghiên cứu hoạt động học tập, lý thuyết học tập để áp dụng vào công tác giảng dạy của nhà trường. Đầu tiên có thể kể đến các nhà khoa học về lý thuyết học tập đưa ra các quan điểm, kết quả nghiên cứu về cách diễn ra hoạt động học tập của người học. Hiện nay, có nhiều quan điểm theo trường phái phát triển và cho rằng con người chủ động tạo dựng, tìm tòi kiến thức của bản thân, bằng cách biến đổi thế giới của họ. Theo trường phái này, có thuyết kiến tạo (constructivism) của Piaget, thuyết “tạo dựng” (constructionism) của Papert và tiếp cận kiến tạo – xã hội (socio-constructivist approach) của Vygotsky.
Những quan điểm này chủ yếu nhấn mạnh vào cách thức học và trưởng thành của người học. Bên cạnh đó, học sinh cần được tương tác với giáo viên và bạn học để kiểm tra tư duy của mình, để được thử thách, để nhận phản hồi và để xem người khác giải quyết vấn đề như thế nào. Theo Mebrien và Brandit (1997), “kiến tạo” là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về “học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo bởi người khác [5]. Theo Brooks (1993), quan điểm về kiến tạo trong dạy học khẳng định rằng học sinh -7- Luan van cần phải tạo nên những hiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái mà họ đã có từ trước đó.
Học sinh sẽ thiết lập nên những quy luật thông qua sự phản hồi trong mối quan hệ tương tác với những chủ thể và ý tưởng [5]. Theo tư tưởng của Von Glaserfeld thì tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài [5]. Komensky (1952 – 1670), nhà giáo dục học Tiệp Khắc đã đưa ra bí quyết về phương pháp giảng dạy và giáo dục là rèn luyện cho học sinh một tâm hồn dễ dàng, tích cực, tự do, ngăn cản được các điều mà các học sinh muốn làm, ngược lại đẩy học sinh làm những điều mà học sinh không muốn. Ngoài ra, Komensky cũng nhấn mạnh dạy thông qua việc làm từ chính học sinh chứ không phải thông qua lời giảng của giáo viên [6].
Có thể thấy quan điểm theo trường phái phát triển có giá trị rất sâu sắc cho công tác sư phạm. Có ba yếu tố cần lưu ý trong hoạt động sư phạm, giáo dục người học theo các quan điểm thuộc trường phái phát triển: (1) Kiến thức không phải thông tin có thể được phân phát một đầu và mã hóa, lưu trữ, lấy ra và tái sử dụng ở một đầu khác. Mà kiến thức là trải nghiệm được xây dựng thông qua tương tác với thế giới (con người và sự vật). Do vậy, trong quá trình dạy học không đánh đồng kiến thức với thông tin – và xây dựng kiến thức với quá trình xử lý thông tin.
(2) Một giáo viên giỏi là một người giúp cho người học khám phá, biểu lộ, trao đổi và mở rộng quan điểm của họ từ bên trong. Người giáo viên không phải là vai chính trên sân khấu mà là người hướng dẫn trong cánh gà [19, tr.10-18] Dựa trên quan điểm kiến tạo trong dạy học, các phương pháp dạy, học được đề xuất nhằm cải tiến hiệu quả hoạt động dạy học. Có thể kể đến các PPDH theo tiếp cận của lý luận dạy học hiện đại như: - Học tập tích cực (Active learning) - Học bằng việc làm (Learning by doing) - Lấy học sinh làm trung tâm (Student-centered theory) -8- Luan van - Học thông qua giải quyết vấn đề (Problem-based learning) - Học qua các dự án (Project-based learning) - Học bằng khám phá (Discovery learning) - Học tập gợi mở (Inquiry-based learning)… Các phương pháp này hiện nay được sử dụng phổ biến ở các nước có nền giáo dục tiên tiến như Phần Lan, Mỹ, Nhật, Singapore. Ngoài ra, một số nhà tư tưởng, nhà giáo dục khác có quan tâm đến công tác dạy học và giáo dục gắn liền với yêu tố môi trường văn hóa và hơn thế nữa là vai trò của động cơ mỗi cá nhân đối với quá trình tự học của cá nhân đó.
Theo John Dewey (1859 – 1952), ông đã nhận ra học luôn luôn được gắn vào một văn hóa và thay đổi cùng với văn hóa này [7]. Với Khổng Tử, người học phải có nhu cầu nhận thức, ham hiểu biết, khám phá cái mới; phải độc lập suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình nhận thức; ngoài học thầy, học trong sách vở còn học cả trong cuộc sống. Ông còn bắt học trò phải suy nghĩ, “học không suy nghĩ thì vô ích. Suy tư mà không học thì kết quả cũng chỉ bằng không” [8, tr.
Rubinstein khẳng định: “Bất kỳ hoạt động nào của con người cũng xuất phát từ chỗ nó là một cá nhân, như một chủ thể của hoạt động đó”. Học là một hoạt động, một hành vi tích cực chứ không phải là chỉ tiếp nhận, có động cơ chứ không phải có sự khác biệt cá nhân, do xã hội quy định chứ không phải nội sinh và phụ thuộc cao độ vào phương pháp. Muốn học sinh chuyển tri thức nhân loại thành kiến thức của bản thân thì người thầy phải tổ chức cho học sinh tích cực hoạt động [23] Qua tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước cho thấy, nhiều tác giả rất quan tâm đến vấn đề nghiên cứu. Để người học có được kỹ năng giao tiếp tiếng nước ngoài thay cho tiếng mẹ đẻ, đòi hỏi người học phải có nhu cầu, động cơ và sự kiên trì trong quá trình rèn luyện dưới sự hướng dẫn tích cực của người dạy.
Quá trình rèn luyện ngoại ngữ, các tác giả đề cập đến vai trò của giáo viên, giáo viên là người tạo ra sự hứng thú trong học tập cũng như vận dụng khả năng sư phạm của mình để giúp người học lĩnh hội kiến thức và niềm tin trong học tập. Ở Việt Nam Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 phê duyệt về Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” [1] đưa ra yêu cầu giáo viên ngoại ngữ phải có các năng lực ngôn ngữ giảng dạy cao hơn trình độ chung của cấp dạy hai bậc. Cụ thể, giáo viên THPT, giáo dục thường xuyên, CĐ và trung học chuyên nghiệp đạt bậc 5/6 KNLNN (CEFR C1) tương đương FCE tối thiểu 80 điểm, chứng chỉ TOEFL trên giấy tối thiểu 575 điểm, chứng chỉ IELTS tối thiểu 6.5 điểm, chứng chỉ CAE tối thiểu 60 điểm hoặc các chứng chỉ được công nhận tương đương khác đạt năng lực ngoại ngữ bậc 5 (C1) trở lên theo khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ chung Châu Âu. Tuy nhiên theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì đến hết tháng 6/2012, nếu áp dụng khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ Châu Âu thì toàn quốc chỉ có 1.784 giáo viên tiếng Anh đạt trình độ B2; 2.785 giáo viên đạt B1, con số này rất đáng quan tâm và lo ngại trước sự phát triển và hội nhập của đất nước.
Bên cạnh đó, tác giả Trần Hồng Quân (1995) cho rằng muốn đào tạo được con người khi bước vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáo dục cũng hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo. Người học tự tìm hiểu, tự phân tích, xử lý tình huống và giải quyết vấn đề, khám phá ra cái chưa biết. [10] Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc khi nghiên cứu thực trạng thái độ học tập của học sinh cũng đã nêu, hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đọc thêm và làm các bài tập khác, vận dụng hay chuyển tải những gì đã học vào thực tế, hình thành và phát triển các quan hệ với thầy, với bạn bè nhằm giúp bản thân học tốt hơn. Có thể nói rằng các tác giả đã thành công trong quá trình nghiên cứu thái độ học tập – một thành phần không thể thiếu của tính tích cực học tập, bởi khi học sinh có thái độ học tập đúng đắn thì các em mới tích cực tìm ra cách tối ưu để lĩnh hội tri thức.
[17] -10- Luan van Theo tác giả Hoàng Thị Minh Nhựt, nghiên cứu cho thấy học sinh gặp khó khăn trong kỹ năng nói tiếng Anh là thiếu từ vựng và không được giao tiếp bằng tiếng Anh chiếm 100%. Và việc đổi mới PPDH sang hướng tích cực lấy người học làm trung tâm là cần thiết, mục đích của PPDH theo hướng tí cực là nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Theo tác giả, chất lượng dạy học chỉ thật sự được nâng cao khi và chỉ khi người học tích cực học tập mọi lúc, mọi nơi trong suốt thời gian ở lớp học. Để nâng cao chất lượng trong giao tiếp, tác giả đã đề xuất một số biện pháp giúp học sinh tích cực trong học tập tiếng Anh, tác giả tập trung về sự quan tâm của nhà trường về phương pháp quản lý đánh giá giáo viên, đánh giá mục tiêu dạy học cũng như chương trình nội dung và tiến độ thực hiện kế hoạch và phương pháp, phương tiện học tập, giáo viên phải tăng cường tham gia các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ nâng cao trình độ chuyên môn.
[15] Ngoài ra, “Thực trạng kĩ năng nói tiếng anh và đề xuất một số hoạt động tự rèn luyện nói tiếng anh ngoài lớp học cho sinh viên chuyên ngành kĩ thuật trường đại học Công nghiệp Tp.HCM” của tác giả Trương Trần Minh Nhật trên tạp chí Giáo dục; Luận văn thạc sỹ giáo dục: “Biện pháp rèn luyện kỹ năng giao tiếp tiếng anh cho học sinh tại trường tiểu học Võ Văn Hát quận 9 Tp.