Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về té ngã, nguy cơ té ngã và phòng ngừa té ngã 1. Khái niệm về té ngã Theo Kellogg Group (1987) đưa ra khái niệm “té ngã là sự việc mà một người không chủ ý (vô tình) nằm xuống mặt đất hoặc cấp độ thấp hơn và là hậu quả của một lực tác động mạnh, mất ý thức đột ngột như trong một cơn đột quỵ, động kinh”.
Buchner và cộng sự (1993): “ té ngã là sự không chủ ý nằm xuống hành lang, sàn nhà và những vị trí thấp khác không bao gồm đồ nội thất, tường nhà và những đồ gia dụng khác” Viện Thông tin Y tế Canada (2002): “té ngã là sự thay đổi tư thế không chủ ý mà kết quả là cơ thể nằm xuống nền nhà hoặc hành lang” Tideiksaar (2002): “té ngã là bất kỳ biến cố mà một người vô tình hay cố ý nằm xuống nền nhà hoặc một vị trí thấp hơn như ghế tựa, nhà vệ sinh hay giường ngủ” [24]. Tổ chức Y tế thế giới (2018) đưa ra khái niệm: “ té ngã là một biến cố dẫn đến việc một người không chủ ý nằm xuống mặt đất hoặc sàn nhà hay một vị trí thấp khác” [56]. Đây là khái niệm mang tính tổng quát nhất so với những khái niệm trên. Nguy cơ té ngã Theo WHO những yếu tố nguy cơ dẫn đến té ngã có thể ảnh hưởng đến phân loại và mức độ nghiêm trọng của chấn thương do té ngã: - Các yếu tố nguy cơ khó can thiệp: + Tuổi tác Tuổi tác là một trong những yếu tố nguy cơ chính cho việc té ngã.
Người già có nguy cơ cao bị những chấn thương nghiêm trọng hoặc tử vong phát sinh do ngã và nguy cơ tăng theo tuổi. Tại Hoa Kỳ, có từ 20 - 30% người già phải chịu các chấn thương từ trung bình đến nặng như vết bầm tím, gãy xương hông hoặc chấn thương đầu. Nguyên nhân có thể do những thay đổi về thể chất, cảm giác và nhận thức liên quan đến lão hóa, kết hợp với sự không thích nghi với môi trường ở người già. 5 Một nhóm nguy cơ cao khác là trẻ em, thời thơ ấu xảy ra té ngã phần lớn là do giai đoạn đang phát triển của chúng, sự tò mò bẩm sinh trong môi trường xung quanh và mức độ độc lập ngày càng tăng cùng với các hành vi thiếu kiểm soát thường làm tăng ‘nguy cơ mắc bệnh”.
Mặc dù việc giám sát của người lớn không đầy đủ là một yếu tố rủi ro thường được đề cập đến, nhưng các trường hợp té ngã ở trẻ em thường liên quan đến tình trạng nghèo đói, làm cha mẹ đơn thân và môi trường đặc biệt nguy hiểm. + Giới tính Trên tất cả các nhóm tuổi và khu vực, cả hai giới đều có nguy cơ bị té ngã. Ở một số quốc gia, tỷ lệ nam giới tử vong do ngã cao hơn nữ giới. Phụ nữ lớn tuổi và trẻ nhỏ đặc biệt dễ bị té ngã và tăng mức độ nghiêm trọng của chấn thương.
Trên toàn thế giới, nam giới luôn duy trì tỷ lệ tử vong và số năm cuộc sống bị mất đi do té ngã cao hơn nữ giới. Giải thích có thể về gánh nặng lớn hơn được thấy ở nam giới bao gồm mức độ rủi ro cao hơn, thực hiện các hành vi và mối nguy hiểm trong nghề nghiệp. - Các yếu tố nguy cơ có thể can thiệp, bao gồm: + Nghề nghiệp ở độ cao hoặc điều kiện làm việc nguy hiểm khác; + Sử dụng rượu bia hoặc các chất kích thích; + Các yếu tố kinh tế xã hội bao gồm nghèo đói, nhà ở quá đông đúc, làm cha mẹ đơn thân, tuổi mẹ trẻ; + Tình trạng sức khỏe: bệnh thần kinh, tim mạch… ; + Tác dụng phụ của thuốc, không hoạt động thể lực và mất thăng bằng (ở người cao tuổi); + Khả năng di chuyển, nhận thức và thị lực kém, đặc biệt là những người sống trong viện dưỡng lão hoặc cơ sở chăm sóc mãn tính; + Môi trường không an toàn, đặc biệt là với những người thăng bằng kém và tầm nhìn hạn chế [56]. Phòng ngừa té ngã Phòng ngừa nói chung, theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “làm một cái gì đó trước khi sự việc, hiện tượng diễn ra nhằm ngăn chặn không để xảy ra hậu quả” 6 [15].
Luận điểm này thường được áp dụng đối với các hiện tượng xấu, phức tạp, ảnh hưởng tới cuộc sống con người và xã hội. Như vậy có thể suy rộng ra phòng ngừa té ngã cho người bệnh của điều dưỡng viên là các hoạt động tác động lên người bệnh của người điều dưỡng nhằm mục đích ngăn chặn không để xảy ra té ngã khi người bệnh điều trị tại cơ sở y tế. Khái niệm về điều dưỡng, kiến thức và thực hành của người điều dưỡng 1. Khái niệm về điều dưỡng Điều dưỡng bao gồm các hoạt động chăm sóc tự chủ và kết hợp của các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, có bệnh hoặc khỏe mạnh ở trong tất cả các cơ sở y tế.
Điều dưỡng giúp tăng cường sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và chăm sóc người bệnh, người tàn tật và chăm sóc cuối đời. Tham gia vận động chính sách, thúc đẩy môi trường an toàn, nghiên cứu, định hình chính sách y tế, quản lý hệ thống y tế, giáo dục sức khỏe cũng là những vai trò quan trọng của điều dưỡng [37]. Khái niệm về điều dưỡng viên Điều dưỡng viên là người đã hoàn thành một chương trình giáo dục điều dưỡng cơ bản, tổng quát và được ủy quyền bởi cơ quan quản lý thích hợp để thực hành điều dưỡng tại quốc gia của mình. Giáo dục điều dưỡng cơ bản là một chương trình nghiên cứu được công nhận chính thức cung cấp nền tảng rộng rãi và vững chắc về khoa học hành vi, đời sống và kỹ năng thực hành điều dưỡng nói chung, cho vai trò định hướng và giáo dục sau cơ bản của chuyên ngành điều dưỡng hoặc thực hành nâng cao [37].
Kiến thức và thực hành của người điều dưỡng - Kiến thức là sự nhận thức hoặc thành thạo có được từ kinh nghiệm, thông tin về sự vật, hiện tượng. Nó là tập hợp sự hiểu biết về lý thuyết và thực hành về một lĩnh vực của con người [39]. Kiến thức thường được tích lũy qua học tập, qua kinh nghiệm sống. Kiến thức được cung cấp bởi các giáo viên, cha mẹ, bạn bè, sách vở, báo chí… và kiến thức của mỗi người được tích lũy trong suốt cuộc đời [14].
Tập hợp những kiến thức đã được hệ thống hóa gọi là tri thức, có 2 hệ thống tri thức là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học [23]: 7 + Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định và là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. + Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học.
Tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,… Như vậy, kiến thức điều dưỡng là tập hợp sự hiểu biết lý thuyết về lĩnh vực điều dưỡng. Kiến thức điều dưỡng được tích lũy qua quá trình học tập chuyên nghiệp của sinh viên điều dưỡng tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp có đào tạo về chuyên ngành điều dưỡng cũng như quá trình công tác của người điều dưỡng viên sau này. Kiến thức điều dưỡng vừa là tri thức kinh nghiệm, vừa là tri thức khoa học của người điều dưỡng.
- Thực hành điều dưỡng là ứng dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ trong việc giảm bớt, hỗ trợ hoặc nâng cao phản ứng của cá nhân, cộng đồng đối với các vấn đề sức khỏe hiện tại hay tiềm tàng. Nó tập trung vào việc thúc đẩy, bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa thương tích hoặc bệnh tật và chăm sóc người bệnh, người tàn tật để xác định nhu cầu điều dưỡng trong duy trì, tối ưu hóa sức khỏe hay chăm sóc giảm nhẹ lúc cuối đời [48]. - Có nhiều phương pháp để đánh giá kiến thức và thực hành điều dưỡng. Việc lựa chọn phương pháp đánh giá phụ thuộc vào từng chủ đề và lĩnh vực cụ thể.
Đối với đánh giá kiến thức điều dưỡng, hiện nay người ta thường xây dựng những bộ câu hỏi trắc nghiệm tự điền, tốt nhất là sử dụng bộ câu hỏi được xây dựng bởi những tổ chức, những nhà khoa học có uy tín và đã chứng minh tính hiệu quả, được ứng dụng rộng rãi. Còn đối với đánh giá thực hành điều dưỡng, bảng kiểm quan sát được dùng như là một phương pháp phổ biến. Té ngã và an toàn người bệnh trong chính sách y tế. Thế giới Những năm gần đây an toàn người bệnh luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu trong chính sách y tế trên phạm vi toàn thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng.
Đã có ba hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh được tổ chức, quy tụ các Bộ trưởng Bộ Y tế của các quốc gia thành viên của WHO, các chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách y tế. - Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh lần thứ nhất (2016) tại Luân Đôn, Vương Quốc Anh. Tổng giám đốc WHO, các nhà lãnh đạo y tế của các quốc gia thành viên và các chuyên gia với quan điểm đồng thuận cao ủng hộ phong trào an toàn người bệnh toàn cầu cũng như hợp tác quốc tế ở tất cả các cấp và đưa ra 5 điểm hành động cụ thể: (1) Cam kết chính trị và lãnh đạo; (2) Các chính sách khuyến khích và cho phép cải thiện an toàn cho bệnh nhân; (3) Thay đổi mô hình: cung cấp một không gian để mọi người báo cáo về an toàn; (4) Đo lường hiệu quả: điểm chuẩn, phát triển các chỉ số và hệ thống dữ liệu; (5) Phong trào an toàn cho bệnh nhân: kêu gọi hành động khẩn cấp của các chính phủ [54].