Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dự phòng té ngã ở người cao tuổi 1. Đại cương về người cao tuổi 1. Khái niệm người cao tuổi Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi.
Trước đây người ta thường dùng thuật ngữ người già để chỉ những người nhiều tuổi, hiện nay khái niệm người cao tuổi ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm lý, người cao tuổi là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng. Theo luật lao động: Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên (với nam), từ 55 tuổi trở lên (với nữ) [18]. Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể [1].
Theo luật người cao tuổi ban hành năm 2009 quy định: Người cao tuổi là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên [17]. Hầu hết các nước phát triển, từ 65 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi. Tuy nhiên với nhiều nước đang phát triển thì mốc tuổi này là không phù hợp. Hiện nay chưa có một tiêu chuẩn nào thống nhất giữa các quốc gia, Liên Hợp Quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên trong đó phân ra làm 3 nhóm: sơ lão (60 - 69 tuổi); trung lão (70 - 79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên) [19].
Xét ở góc độ tâm lý, luật pháp, tuổi thọ trung bình khái niệm người cao tuổi trong đề tài chúng tôi sử dụng khái niệm người cao tuổi là người có tuổi đời từ 60 tuổi trở lên (không phân biệt nam hay nữ). Xu hướng già hóa dân số ở Việt Nam Theo ước tính của Tổng cục Thống kê [6], tuổi thọ trung bình tính từ khi sinh của Việt Nam năm 2015 là 73,3 tuổi (70,7 ở nam và 76,1 ở nữ); tăng 0,1 tuổi so với năm 2014. Tuổi thọ khỏe mạnh theo ước tính của WHO là 63,2 tuổi ở nam và 70,0 tuổi ở nữ; tăng khoảng 4 tuổi ở nam và 5 tuổi ở nữ so với năm 2000. Theo số liệu 5 của Tổ chức Y tế thế giới, trong số 10 quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, tuổi thọ nam giới Việt Nam đứng thứ 5 và tuổi thọ phụ nữ Việt Nam đứng thứ hai sau Singapore.
Tuổi thọ khỏe mạnh ở nam giới Việt Nam chỉ thấp hơn Singapore và Bru-nây trong khi tuổi thọ khỏe mạnh của phụ nữ chỉ thấp hơn Singapore. Tuy nhiên, theo số liệu của WHO, chênh lệch giữa tuổi thọ và tuổi thọ khỏe mạnh ở Việt Nam, tức là số năm trung bình sống có bệnh tật, tương đối cao so với các nước khác. Ở Việt Nam, nữ sống có bệnh tật trung bình khoảng 11 năm và nam giới khoảng 8 năm. Điều này cũng làm tăng nguy cơ té ngã cho người cao tuổi [15].
Tình trạng sống không có vợ/chồng chiếm tỷ lệ cao 61,01%, trong đó số phụ nữ già cô đơn cao hơn nhiều so với nam giới. Năm 1999 cả nước có 354,6 ngàn cụ ông goá vợ trong khi có 1,9 triệu cụ bà goá chồng, nhiều gấp 5,4 lần so với cụ ông, chưa kể số phụ nữ cao tuổi sống ly hôn, ly thân khoảng 45 nghìn người, cao gấp 2 lần so với nam giới. Sự gia tăng tỷ lệ người cao tuổi sống cô đơn tăng từ 3,47% (năm 1992/93) lên 5,62% (năm 2004). Tình trạng này phổ biến với người cao tuổi sống ở nông thôn và người cao tuổi là phụ nữ.
Khoảng 80% người cao tuổi sống cô đơn là phụ nữ và cũng khoảng 80% trong số họ sống ở nông thôn thu nhập thấp. Đây cũng là điều kiện thuận lợi làm gia tăng tỷ lệ té ngã ở người cao tuổi[14, 19]. Tại Việt Nam mô hình gia đình hạt nhân đang dần có su hướng chiếm ưu thế đồng nghĩa với nó là số lượng người trong một gia đình giảm xuống. Gia đình trung bình ở Việt Nam giảm từ 5,2 người / gia đình (1997) xuống 4,5 người / gia đình (1999) và tới 3,7 người mỗi gia đình (2012).
Số vụ ly hôn là ngày nay ngày càng tăng, và ở các thành phố, tỷ lệ ly hôn cao gấp 1,5 lần so với ở các làng và nó có xu hướng tăng. Theo Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam, năm 2000, số lượng ly hôn là 51 361, trong khi năm 2005 số lượng của họ tăng lên 65.929 và năm 2010 - lên tới 126.325 các trường hợp. Số vụ ly hôn gia tăng ở các nhóm tuổi khác nhau: nhóm 20-29 tuổi, đó là 1%, 30-39 năm - 2%, 40-59 năm - 3-4%. Và, như một hệ quả, con số của người già sống một mình trong tuổi già tăng lên [52].
6 Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009 số người trên 60 tuổi ở Việt Nam là 7,72 triệu người chiếm khoảng 9% tổng dân số. Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn "già hóa dân số" từ năm 2011 và là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới. Theo dự báo của Tổng cục thống kê, đến năm 2038, Việt Nam sẽ ở giai đoạn dân số “già” nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên khoảng hơn 21 triệu người, chiếm 20% tổng dân số. Số lượng người cao tuổi có xu hướng tăng dần theo năm điều này tạo nên áp lực rất lớn cho nền kinh tế cũng như gánh nặng về y tế [22, 23].
Dân số ‘già hóa’; ‘già’; ‘rất già’; và ‘siêu già’: Dân số được coi là “già hóa” khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% dân số; tương ứng cho “già”, “rất già” và “siêu già” là 20%, 30% và 35% [22]. Té ngã ở người cao tuổi 1. Định nghĩa té ngã Ngã được định nghĩa như một sự kiện, được bản thân người ngã hoặc người xung quanh chứng kiến làm cho cơ thể ngã xuống đất, hoặc chúi về phía trước, người ngã có thể tỉnh hoặc mê, bị chấn thương hoặc không. Ngã là một vấn đề nghiêm trọng ở người cao tuổi vì nó rất thường gặp, gây tàn phế và thậm chí gây tử vong [3].
Ngã là một trong những tác nhân gây thương không chủ ý hàng đầu cho người cao tuổi. Chúng được mã hóa là E880-E888 trong Quốc tế phân loại bệnh-9 (ICD-9) và W00-W19 trong ICD-10. Ngã thường được nhắc tới khi những người vô tình cơ thể nằm trên mặt đất, hoặc sàn cấp thấp hơn, không bao gồm sự thay đổi có chủ ý trong vị trí để nghỉ ngơi trong nhà, tường hoặc các vật thể khác [53]. Thực trạng té ngã của người cao tuổi ở Việt Nam và thế giới: * Té ngã của người cao tuổi trên thế giới: Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới Khoảng 28 - 35% số người từ 65 tuổi trở lên té ngã mỗi năm tăng lên 32-42% cho những người trên 70 tuổi.
Tần số té ngã tăng theo tuổi và mức độ yếu. Những người cao tuổi đang sống trong viện dưỡng lão thường xuyên hơn những người sống trong cộng đồng. Khoảng 30-50% số 7 người sống trong các cơ sở chăm sóc lâu dài giảm mỗi năm và 40% trong số họ bị ngã tái phát [53]. Theo nghiên cứu của Hong Wu tại Trung Quốc năm 2011, có 19,64% người cao tuổi trải bị té ngã và năm 2013 là 19,28%.
Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ té ngã từ năm 2011 đến năm 2013. Tỷ lệ mắc bệnh ở người cao tuổi 66–70 giảm đáng kể, trong khi những người trên 80 tuổi có xu hướng tăng lên. Té ngã bị ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố bao gồm tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, sức khỏe tự định, số lượng bệnh mãn tính, số lượng các mặt hàng tàn tật, hoạt động sinh hoạt hàng ngày và hoạt động thể chất [40]. Nghiên cứu của Piyathida Kuhirunyaratn và cộng sự trong đô thị của tỉnh Khon Kaen, Thái Lan, tỷ lệ té ngã chung người cao tuổi ở khu vực thành thị là 19,8%.
Trong đó tỷ lệ té ngã là 24,1% ở phụ nữ nhưng chỉ có 12,1% ở nam giới [47]. Tỷ lệ té ngã dường như cũng khác nhau giữa các quốc gia. Chẳng hạn, một nghiên cứu cho thấy ở Trung Quốc 6-31%, trong khi một nghiên cứu khác cho thấy ở Nhật Bản 20% người cao tuổi té ngã mỗi năm. Một nghiên cứu ở khu vực Châu Mỹ (khu vực Latinh / Caribê) cho thấy tỷ lệ người cao tuổi té ngã mỗi năm khoảng 21,6% và ở Chile là 34% [53].
* Té ngã ở Việt Nam Theo nghiên cứu của Nguyễn Thái Hoà và cộng sự Tuổi càng cao tỉ lệ gãy xương càng tăng, các nhóm tuổi 60‐69, 70‐79 và trên 80 tuổi có tỉ lệ gãy xương lần lượt là 33%; 48%; 68%. Tỉ lệ gãy xương ở người bệnh có tiền sử té ngã (69,2%) cao hơn người bệnh không có tiền sử té ngã (40,5%) (p = 0,011). Tỉ lệ nữ trong nghiên cứu cao hơn hẳn so với nam (tỉ lệ nữ/nam là 3,3/1)[12]. Nghiên cứu của Hồ Thị Phương Thanh trên 290 người cao tuổi thấy tuổi càng cao nguy cơ bị rối loạn dáng đi càng tăng.
Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của các tác giả khác: tuổi trung bình ở nhóm có rối loạn dáng đi là 62,7 ± 14,9 năm cao hơn so với nhóm không có rối loạn dáng đi là 49,5 ± 16 năm, ở tuổi 60 có 15% người có rối loạn dáng đi nhưng khi đến 85 tuổi thì tỷ lệ này là 82%. Tăng 8 thêm một tuổi thì nguy cơ ngã do rối loạn dáng đi tăng thêm 1,04 lần. Nghiên cứu trên cũng cho thấy người cao tuổi có đặc điểm đa bệnh lý và số lượng thuốc trung bình sử dụng là 4,74 ± 1,99, đó cũng chính là những yếu tố nguy cơ gây té ngã [20]. Té ngã hiện đang là vấn đề được quan tâm tại Việt Nam.
Theo kết quả điều tra về tai nạn và thương tích năm 2010 thì té ngã là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 chỉ sau tai nạn giao thông, ngã sảy ra chủ yếu ở nhóm người trên 60 tuổi [5]. Theo tổng kết các báo cáo sự cố y khoa, tai nạn té ngã dẫn đến tử vong đứng thứ hạng cao trong danh mục sự cố thường gặp. Các tai nạn té ngã chiếm khoảng 4,6% sự cố theo báo cáo của ủy ban an toàn vào năm 2003.[8] Việt Nam hiện đang chưa có con số thống kê cụ thể về té ngã ở người cao tuổi, theo ước tính mỗi năm có khoảng 2.000 người té ngã trên 60 tuổi [2]. Nguyên nhân té ngã ở người cao tuổi[49, 53] Ngã xảy ra do sự tương tác phức tạp của các yếu tố rủi ro.