Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) giữ vị trí then chốt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Tính đến thời điểm năm 2005, khối DNNVV chiếm tới 96,80% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên cả nước (tương ứng 109.338 doanh nghiệp) và giải quyết việc làm cho 72,42% lực lượng lao động trong toàn bộ khu vực doanh nghiệp. Về mặt tạo lập giá trị, thành phần kinh tế ngoài Nhà nước với nòng cốt là các DNNVV đã đóng góp tới 46,12% vào tổng GDP giai đoạn 2002 - 2006, vượt qua cả khu vực kinh tế Nhà nước (38,36%) và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (15,51%).

Tuy nhiên, trước ngưỡng cửa hội nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các DNNVV Việt Nam phải đối diện trực tiếp với áp lực cạnh tranh khốc liệt từ gần 150 quốc gia thành viên. Hầu hết các doanh nghiệp trong nước đều có quy mô vốn rất khiêm tốn với mức bình quân chỉ 2,21 tỷ đồng mỗi đơn vị, trong khi tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo chuyên môn lên tới 85,19%. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các doanh nghiệp có thể trụ vững, thích ứng và vươn lên khi các hàng rào thuế quan bảo hộ dần được gỡ bỏ hoàn toàn.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng hoạt động, nhận diện các nút thắt nội tại và rào cản ngoại vi đang kìm hãm năng lực cạnh tranh của DNNVV. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ các DNNVV Việt Nam trên bình diện quốc gia qua chuỗi dữ liệu giai đoạn 2002 - 2006, từ đó hoạch định hệ thống giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh giai đoạn hậu gia nhập WTO. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc lượng hóa các chỉ số phát triển kinh doanh, đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng cho công tác quản trị doanh nghiệp và hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa hai trường phái lý thuyết kinh điển về quản trị chiến lược:

Thứ nhất, mô hình chuỗi giá trị (Value Chain) của Michael E. Porter. Mô hình này phân rã toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp thành 9 nhóm hoạt động cơ bản gồm 5 hoạt động chính (hậu cần đầu vào, sản xuất vận hành, hậu cần đầu ra, marketing bán hàng, dịch vụ hậu mãi) và 4 hoạt động hỗ trợ (cơ sở hạ tầng doanh nghiệp, quản trị nguồn nhân lực, phát triển công nghệ, mua sắm đầu vào). Theo Porter, lợi thế cạnh tranh được tạo dựng thông qua hai con đường cơ bản: tối ưu hóa chi phí vận hành trong chuỗi giá trị để đạt mức giá bán cạnh tranh hoặc tạo lập sự khác biệt vượt trội cho sản phẩm để khách hàng sẵn sàng chi trả mức giá cao hơn, qua đó nới rộng biên lợi nhuận ròng.

Thứ hai, lý thuyết tiếp cận dựa trên nguồn lực (Resource-Based View - RBV). Trường phái này nhấn mạnh rằng năng lực cạnh tranh bền vững của một đơn vị bắt nguồn từ việc sở hữu và khai thác hiệu quả các nguồn lực hữu hình (vốn đầu tư, nhà xưởng, máy móc công nghệ) và nguồn lực vô hình (thương hiệu, uy tín thị trường, văn hóa tổ chức, kỹ năng quản trị). Đồng thời, đề tài tích hợp khung phân tích Dịch vụ phát triển kinh doanh (BDS) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) gồm 7 nhóm dịch vụ trợ lực: tiếp cận thị trường, nguyên vật liệu đầu vào, chính sách và tư vấn pháp luật, hạ tầng cơ sở, huấn luyện kỹ thuật, phát triển công nghệ và xúc tiến tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và khoa học, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và phương pháp so sánh lịch sử cụ thể.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn bộ 112.952 doanh nghiệp đăng ký chính thức trên phạm vi cả nước tại thời điểm ngày 31/12/2005 cùng dữ liệu mở rộng từ hơn 2,12 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật thu thập dữ liệu thứ cấp toàn diện từ Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, khảo sát chuyên đề của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) và dữ liệu Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) thực hiện tại 64/64 tỉnh thành bởi Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Dự án VNCI. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chuỗi thời gian giai đoạn 2002 - 2006 có quy đổi GDP theo giá cố định năm 1994 là nhằm loại trừ hoàn toàn biến động lạm phát, phản ánh chính xác xu hướng tăng trưởng nội tại và sức chịu đựng của khối doanh nghiệp trước thềm mở cửa kinh tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm đã chỉ ra những phát hiện cốt lõi về cấu trúc và năng lực cạnh tranh của DNNVV Việt Nam:

Thứ nhất, quy mô doanh nghiệp vô cùng nhỏ bé và phân bổ mất cân đối. Xét theo quy mô lao động, các doanh nghiệp có quy mô từ 5 đến 49 lao động chiếm tỷ trọng áp đảo 67,30%, nhóm dưới 5 lao động chiếm 21,21%, trong khi nhóm từ 200 đến 299 lao động chỉ vỏn vẹn 1,49%. Tính bình quân, mỗi DNNVV chỉ sử dụng 35 lao động. Xét theo quy mô vốn, nhóm có vốn từ 1 đến dưới 5 tỷ đồng chiếm 42,61%, nhóm dưới 0,5 tỷ đồng chiếm 27,17%, đưa mức vốn bình quân toàn khối xuống con số khiêm tốn 2,21 tỷ đồng/doanh nghiệp. Về loại hình, Công ty Trách nhiệm hữu hạn chiếm 49,92% và Doanh nghiệp tư nhân chiếm 33,27% trong tổng số 103.794 DNNVV ngoài Nhà nước.

Thứ hai, rào cản tiếp cận mặt bằng sản xuất và đất đai diễn ra gay gắt. Khảo sát của IFC ghi nhận có tới 75% DNNVV đang trong giai đoạn tăng trưởng xác nhận thiếu đất sản xuất là rào cản phát triển số một, và cứ 4 doanh nghiệp thì chỉ có 1 đơn vị được tiếp cận quỹ đất trực tiếp từ chính quyền địa phương. Báo cáo chỉ số PCI cho thấy 51,6% các tỉnh thành có từ 10% DNNVV trở lên phải đi thuê đất không chính thức từ các doanh nghiệp Nhà nước, và 98,4% số tỉnh thành có trên 50% doanh nghiệp khẳng định sẵn sàng mở rộng quy mô kinh doanh nếu giải quyết được vấn đề mặt bằng.

Thứ ba, công nghệ trang thiết bị lạc hậu sâu sắc kết hợp với chất lượng nhân sự thấp. Theo báo cáo từ Bộ Công nghiệp, giá trị máy móc thiết bị của các doanh nghiệp chỉ còn khoảng 30% so với ban đầu và lạc hậu hơn 20 đến 30 năm so với thế giới. Ngành dệt may có 45% trang thiết bị cần nâng cấp và 30% đến 40% cần thay thế toàn diện; ngành cơ khí lạc hậu tới 40 năm so với khu vực. Đội ngũ nhân lực trong khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước có tới 85,19% là lao động phổ thông, trình độ đại học chỉ đạt 3,83%. Về phía lãnh đạo, có tới 43,11% giám đốc doanh nghiệp chỉ có học vấn từ phổ thông trung học trở xuống, hạn chế nghiêm trọng khả năng hoạch định chiến lược dài hạn.

Thảo luận kết quả

Cơ cấu ngành nghề của DNNVV phản ánh sự tập trung quá mức vào các lĩnh vực có chuỗi giá trị thấp. Thương nghiệp và sửa chữa chiếm tới 42,66% tổng số doanh nghiệp, công nghiệp chế biến chiếm 19,98%, xây dựng chiếm 13,39%, trong khi nhóm ngành khoa học công nghệ chỉ chiếm vỏn vẹn 0,02%. Điều này lý giải vì sao các doanh nghiệp Việt Nam rất dễ bị tổn thương khi các tập đoàn đa quốc gia đổ bộ vào thị trường bán lẻ và phân phối nội địa.

Khi trình bày dữ liệu, các phát hiện này có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn biểu thị tỷ trọng cơ cấu ngành nghề và loại hình tổ chức doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một bảng ma trận đối chiếu mức độ tụt hậu công nghệ (chia theo các mốc 20, 30 và 40 năm) tương quan với chi phí hao phí nguyên vật liệu sẽ làm nổi bật nguyên nhân khiến giá thành sản phẩm nội địa luôn cao hơn từ 15% đến 25% so với hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia trong khu vực. Việc thiếu hụt tài sản thế chấp hợp pháp (chủ yếu do không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) tạo ra vòng xoáy luẩn quẩn: không có đất hợp pháp dẫn đến không vay được vốn ngân hàng, thiếu vốn dẫn đến không thể đổi mới công nghệ, và công nghệ cũ kỹ khiến năng lực cạnh tranh ngày càng suy kiệt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV trong tiến trình thực thi các cam kết WTO, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Đẩy mạnh minh bạch hóa tài chính và mở rộng kênh tiếp cận tín dụng: Các DNNVV cần chuẩn hóa hệ thống sổ sách kế toán theo chuẩn mực quốc gia, tách bạch rõ ràng tài chính doanh nghiệp và chi tiêu gia đình nhằm nâng cao hệ số tín nhiệm tại Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC). Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng cần nâng tỷ lệ giải ngân thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV đạt mức tối thiểu 40% dư nợ mục tiêu giai đoạn 2008 - 2012, đơn giản hóa quy trình thẩm định cho vay tín chấp dựa trên dòng tiền dự án khả thi.

  • Quy hoạch quỹ đất và đơn giản hóa thủ tục hành chính mặt bằng: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần khẩn trương quy hoạch các cụm công nghiệp tập trung quy mô vừa và nhỏ dành riêng cho khối kinh tế tư nhân. Rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xuống dưới 30 ngày làm việc, phấn đấu nâng tỷ lệ doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất ổn định, chính quy lên trên 70% vào năm 2012.

  • Tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ và chuyển giao kỹ thuật: Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các cơ quan chủ quản cần vận hành hiệu quả Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia, hỗ trợ từ 30% đến 50% chi phí chuyển giao công nghệ cao và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO cho các phân ngành chế biến xuất khẩu then chốt.

  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị điều hành: Các hiệp hội doanh nghiệp phối hợp với cơ sở đào tạo tổ chức các khóa huấn luyện chuyên sâu về quản trị chiến lược, marketing quốc tế và pháp luật thương mại WTO cho đội ngũ giám đốc điều hành, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ cán bộ quản lý chưa qua đào tạo xuống dưới 20% trong vòng 3 đến 5 năm tới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu trong luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị DNNVV: Nắm bắt phương pháp phân tích chuỗi giá trị nội bộ, định vị chính xác vị thế cạnh tranh trên thị trường, từ đó cắt giảm các chi phí vận hành dư thừa và xây dựng chiến lược khác biệt hóa sản phẩm nhằm đối phó với làn sóng hàng ngoại nhập.

  • Cơ quan quản lý Nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Sử dụng nguồn số liệu thống kê chi tiết để thiết kế các chính sách trợ giúp phát triển kinh tế tư nhân, hoàn thiện khung khổ pháp lý về tín dụng vi mô, phát triển cụm công nghiệp và chương trình xúc tiến dịch vụ BDS.

  • Các tổ chức xúc tiến thương mại và hiệp hội ngành nghề: Xây dựng các chương trình đào tạo nghiệp vụ quản trị, thiết lập mạng lưới liên kết giữa các hội viên để tạo sức mạnh đàm phán mua nguyên liệu đầu vào số lượng lớn, giảm chi phí vận chuyển và mở rộng kênh phân phối.

  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học ngành Quản trị Kinh doanh: Khai thác phương pháp luận kết hợp giữa mô hình chuỗi giá trị và lý thuyết nguồn lực làm tài liệu tham khảo giảng dạy, mở rộng hướng nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong các bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng.

Câu hỏi thường gặp

  • Tiêu chuẩn phân loại DNNVV tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu được quy định như thế nào? Theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ, DNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh hợp pháp, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người.

  • Thách thức lớn nhất đối với DNNVV Việt Nam khi gia nhập WTO là gì? Thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên thị trường nội địa từ hàng hóa nhập khẩu giá rẻ do thuế quan cắt giảm, cùng sự lấn át của các tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực tài chính mạnh, công nghệ vượt trội và bề dày kinh nghiệm quản trị.

  • Tại sao đa số DNNVV lại gặp bế tắc khi tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng thương mại? Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp có quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ, thiếu tài sản pháp lý hợp lệ để thế chấp, hệ thống kế toán thiếu minh bạch và báo cáo tài chính chưa đủ độ tin cậy để ngân hàng thẩm định mức độ rủi ro tín dụng.

  • Tình trạng công nghệ lạc hậu gây ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp? Trang thiết bị lạc hậu từ 20 đến 30 năm khiến mức tiêu hao nguyên vật liệu tăng cao, năng suất lao động thấp và tỷ lệ sản phẩm lỗi lớn, đẩy giá thành đơn vị sản phẩm lên cao hơn từ 15% đến 25% so với các đối thủ quốc tế.

  • Mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter giúp ích gì cho các nhà quản lý DNNVV? Mô hình giúp doanh nghiệp rà soát toàn bộ 9 mắt xích hoạt động để nhận diện chính xác các khâu tạo ra giá trị gia tăng cao nhất, loại bỏ chi phí lãng phí và tập trung nguồn lực xây dựng lợi thế chi phí thấp hoặc tạo ra sự khác biệt độc đáo cho sản phẩm.

Kết luận

  • Khu vực DNNVV chiếm 96,80% số lượng doanh nghiệp, đóng góp 46,12% GDP và tạo ra 72,42% việc làm nhưng đang đứng trước nguy cơ tổn thương cao do quy mô vốn bình quân chỉ 2,21 tỷ đồng.
  • Bốn rào cản lớn nhất kìm hãm năng lực cạnh tranh của DNNVV là: khó khăn về quỹ đất sản xuất, khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, công nghệ trang thiết bị lạc hậu từ 3 đến 4 thế hệ và trình độ quản trị của đội ngũ lãnh đạo còn hạn chế.
  • Luận văn đã vận dụng sáng tạo mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter và lý thuyết dựa trên nguồn lực để làm sáng tỏ cơ chế phát sinh lợi thế cạnh tranh của khối kinh tế tư nhân Việt Nam.
  • Hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2008 - 2012 cần tập trung giải phóng nguồn lực mặt bằng, kích hoạt các quỹ bảo lãnh tín dụng và triển khai hỗ trợ chuyển giao công nghệ theo tiêu chuẩn BDS của ILO.
  • Để biến thách thức hội nhập WTO thành cơ hội phát triển bền vững, các nhà quản trị doanh nghiệp và các cơ quan quản lý cần chủ động thực thi ngay các giải pháp tái cấu trúc nội bộ, nâng cấp công nghệ và chuẩn hóa quy trình điều hành.