CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG HỌC SINH, SINH VIÊN TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Cơ sở lý luận về hoạt động tín dụng của Ngân hàng chính sách xã hội 1.1 Sự ra đời của Ngân hàng Chính sách xã hội ở Việt Nam Phát triển kinh tế đi đôi với xóa đói giảm nghèo là chủ trương nhất quán của Đảng ta trong quá trình đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo, vùng nghèo đã được thực hiện ở nước ta ngay từ ngày thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam (năm 1951) và đã trở thành công cụ xóa đói giảm nghèo cơ bản và bền vững. Quan hệ tín dụng “có vay có trả”, “cho cần câu thay vì cho cá”, vừa giúp cho người nghèo có vốn để sản xuất, tiếp cận từng bước với kinh tế thị trường, vừa đặt ra cho các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể phải có trách nhiệm đến cùng trong việc giúp đỡ người nghèo vượt qua khó khăn, phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống và nâng cao vị thế của họ trong xã hội.
Năm 1993, Chính phủ đã thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo với số vốn ban đầu là 400 tỷ đồng, được đóng góp từ Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước. Từ kinh nghiệm thực tiễn hai năm thực hiện Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo, đặt trong NHNo & PTNT, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo. NHNg là một tổ chức tín dụng đặc thù, việc quản lý được giao cho các bộ, ngành liên quan còn việc điều hành tác nghiệp cụ thể được giao cho NHNo & PTNT thực hiện. 13 Tuy nhiên, bên cạnh NHNg, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách khác còn được giao cho nhiều cơ quan nhà nước, hội đoàn thể và ngân hàng thương mại cùng thực hiện theo các kênh khác nhau, làm cho nguồn lực của Nhà nước bị phân tán, chồng chéo, trùng lắp, thậm chí cản trở lẫn nhau.
Để tiếp tục thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo, yêu cầu đặt ra là phải tập trung nguồn lực do Nhà nước huy động được vào một tổ chức tín dụng duy nhất, nhằm tạo nên sức mạnh có tính đột phá, giúp giảm nghèo nhanh và bền vững. Mặt khác, để tạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại chuyển hẳn sang kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, cần thiết phải tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại. Trên cơ sở đó, ngày 04/10/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác và Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 131/2002/QĐ- TTg về việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở tổ chức lại NHNg, tách khỏi NHNo & PTNT Việt Nam. Ngày 11/3/2003, NHCSXH chính thức đi vào hoạt động.
NHCSXH là một định chế tài chính thuộc loại hình các Ngân hàng chính sách quy định tại Khoản 2, Điều 4 và Điều 17 Luật Ngân hàng và Tổ chức tín dụng ngày 16/6/2010. Tên đầy đủ là: Ngân hàng Chính sách xã hội. Tên giao dịch quốc tế là: Vietnam Bank for Social Policies. NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.2 Đặc điểm tín dụng của NHCSXH Việt Nam Về bản chất, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị có thể biểu hiện bằng tiền hoặc bằng hiện vật từ chủ thể này sang chủ thể khác với điều kiện phải hoàn trả theo những thỏa thuận trước 14 giữa hai bên.
Nội dung chính của sự thỏa thuận đó là: thời hạn vay, số tiền phải trả, lãi suất. Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội. Người vay không phải thế chấp tài sản. Mức cho vay đối với một lần vay phù hợp với từng loại đối tượng được vay vốn tín dụng ưu đãi do Hội đồng quản trị NHCSXH quyết định và công bố trên cơ sở nhu cầu vay vốn và khả năng nguồn vốn có thể huy động được trong từng thời kỳ.
Thời hạn cho vay được quy định căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay của người vay và thời hạn thu hồi vốn của chương trình, dự án có tính đến khả năng trả nợ của người vay. Lãi suất cho vay ưu đãi do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo đề nghị của HĐQT NHCSXH.3 Các hoạt động tín dụng của NHCSXH Việt Nam - Chương trình cho vay hộ nghèo: đối tượng là hộ nghèo với mục đích phục vụ sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo và việc làm, ổn định xã hội. - Chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn: đối tượng là HSSV thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn về tài chính với mục đích góp phần trang trải chi phí cho việc học tập, sinh hoạt của HSSV trong thời gian theo học tại trường. - Chương trình cho vay giải quyết việc làm: đối tượng là hộ gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh với mục đích góp phần tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế.
15 - Chương trình cho vay xuất khẩu lao động: đối tượng là hộ gia đình chính sách nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ nghề nghiệp cho người lao động, tăng nguồn thu cho đất nước và mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới. - Chương trình cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn: cho hộ gia đình tại vùng khó khăn vay với mục đích phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần thực hiện chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, tăng trưởng kinh tế đồng đều giữa các vùng trong cả nước. - Chương trình cho vay mua nhà trả chậm: áp dụng cho hai đối tượng là hộ gia đình vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long và Doanh nghiệp cung cấp nhà trả chậm trong danh sách các doanh nghiệp sản xuất nhà ở được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt - Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Đối tượng là hộ gia đình khu vực nông thôn với mục đích thực hiện chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, nhằm nâng cao sức khỏe, cải thiện điều kiện sinh hoạt, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn. - Chương trình cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn: đối tượng là hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tại vùng khó khăn với mục đích hỗ trợ phát triển sản xuất, ổn định đời sống, sớm vượt qua đói nghèo.
- Chương trình cho vay hộ gia đình, cơ sở doanh nghiệp sử dụng lao động là người sau cai nghiện: áp dụng cho hai đối tượng là hộ gia đình và cơ sở, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với mục đích nhằm tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện, giúp họ tái hòa 16 nhập cộng đồng vì lợi ích của chính họ, gia đình họ và lợi ích chung của cộng đồng. - Chương trình cho vay hỗ trợ hộ nghèo làm nhà ở: đối tượng là hộ nghèo với mục đích hỗ trợ hộ nghèo có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững. Hoạt động tín dụng ngân hàng được thực hiện tại điểm giao dịch ở các xã là một đặc điểm riêng có của NHCSXH. Việc làm này tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng, tiết kiệm được chi phí xã hội nói chung và chi phí hoạt động của ngân hàng nói riêng, huy động được sức mạnh của toàn xã hội hướng về người nghèo, từng bước thực hiện xã hội hóa, dân chủ hóa lĩnh vực tín dụng chính sách.
Các điểm giao dịch lưu động được đặt tại trụ sở Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn. Thông qua hoạt động tại điểm giao dịch lưu động, NHCSXH có điều kiện thường xuyên trao đổi với lãnh đạo chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội về việc triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi trên địa bàn; thông tin kịp thời về tình hình hoạt động của các Tổ tiết kiệm và vay vốn, tình hình sử dụng vốn vay, nợ quá hạn, rủi ro của các hộ vay vốn để kịp thời xử lý, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện.4 Vai trò hoạt động tín dụng của NHCSXH Việt Nam 1.1 Thực hiện chủ trương chính sách của Nhà nước về xóa đói giảm nghèo góp phần thực hiện an sinh xã hội Sự ra đời của NHCSXH có vai trò rất quan trọng là cầu nối đưa chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; hộ nghèo và các đối tượng chính sách có 17 điều kiện gần gũi với các cơ quan công quyền ở địa phương, giúp các cơ quan này gần dân và hiểu dân hơn; đồng thời, khẳng định chủ trương tập trung các nguồn vốn tín dụng có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước vào một đầu mối, tách tín dụng ưu đãi ra khỏi hệ thống Ngân hàng thương mại là phù hợp với tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế.