CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TIẾP CAN VÀ XỬ LÝ THONG TIN CUA NHÀ BAO VE BỆNH DAI THÁO DUONG 1. Hệ thống các khái niệm có liên quan đến dé tai nghiên cứu 1. Thông tin, tiếp cận thông tin và xử lý thông tin Thông tin theo tiếng anh là “Information”, từ gốc Latinh là “Informatio”, có hai nghĩa. Thứ nhất, nó chỉ một hành động rat cụ thé là tạo ra một hình dạng (forme).
Thứ hai, tuỳ từng tình huống, nó là sự truyền đạt một ý tưởng, khái niệm hay biểu tượng. Cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng có sự thay đổi theo. Hiện nay có nhiều cách hiểu về thông tin, thậm chí ngay các từ điển cũng không thé có một định nghĩa thống nhất. Ví dụ: Từ điển Oxford English Dictionary thì cho rằng thông tin là “điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức”.
Cũng theo từ điển Tiếng Việt thì thông tin được định nghĩa “thông tin là tin tức được truyền cho nhau để biết”'. Trong cuộc sống thường ngày, thông tin được hiểu là tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh. Trong các lĩnh vực khoa học như triết học, toán học, vật lý học, điều khiến học, di truyền học,. khái niệm thông tin được sử dụng nhưng có nội dung rất khác nhau.
Tiếp cận thông tin là quá trình quan sát, nắm bắt các khía cạnh của sự vật, hiện tượng, nắm nguồn gốc khách quan, chủ quan của thông tin để vạch ra và hiểu đúng chất thông tin. Tiếp cận vì thế là hoạt động khoa học, khách quan, có phương pháp biện chứng dé tim được nguồn gốc bản chất tin tức. Tùy thuộc vào phương thức và trình độ năng lực của người tiếp cận thông tin mà xác định mục tiêu, yêu cầu tính cần thiết tiếp cận thông tin. Xử lý thông tin là sự thay đổi thông tin theo từng cách khác nhau mà người quan sát có thé phát hiện được.
Cũng có thé nói xử lý thông tin ' Viện Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng 18 được mô tả là "các khoa học liên quan đến việc thu thập, thao tác, lưu trữ, truy xuất và phân loại thông tin được ghi lại"”. Xử lý thông tin được xem là khâu quan trọng có tính quyết định trước mỗi thông tin đối với xã hội. Kết quả xử lý tùy thuộc vào chất lượng thông tin đúng hay sai mà người xử lý biết chọn lọc đến đâu, nắm bắt đúng đúng, đủ bản chất hình thức, thuộc tính thông tin, những kết luận rút ra được từ trình độ nhận thức của người thực hiện xử lý thông tin đó. Theo lý luận thực tiễn, ba khái niệm thông tin, tiếp cận thông tin và xử lý thông tin là ba khái niệm khác nhau nhưng thường đi liền với nhau, có mối quan hệ biện chứng với nhau không thé tách rời và bổ sung cho nhau.
Bệnh đái tháo đường Bệnh DTD hay còn gọi là tiêu đường, là một căn bệnh mãn tính xảy ra khi tuyến tụy không còn khả năng tạo ra insulin (1 loại hormone giúp đường glucose từ thực phẩm đi từ máu vào các tế bao trong cơ thé dé tạo ra năng lượng) hoặc sử dụng hiệu quả dẫn đến tăng lượng đường trong máu. Trong thời gian dai, mức đường huyết cao làm tổn thương cơ thé và suy giảm các cơ quan và mô khác nhau dẫn đến rối loạn quan trọng về chuyển hóa đường, đạm, mỡ, chất khoáng. Tăng lượng đường glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa, gây tôn thương ở nhiều cơ quan khác nhau như tim, mạch máu, thận, mắt, thần kinh. Có ba loại DTD chính: DTD tip 1: có thé phát triển ở mọi lứa tuôi, thường xuyên nhất ở trẻ em và thanh thiếu niên.
Khi mac bệnh DTD tip 1, cơ thé sản xuất rất ít hoặc không sản xuất insulin, cần tiêm insulin hàng ngày để duy trì mức đường huyết trong tầm kiêm soát. “Definition of information processing”. The Free Dictionary. 2012 19 DTD tip 2: phô biến hơn ở người lớn và chiếm khoảng 90% tổng số trường hợp mac DTD hiện nay.
Khi mắc đái tháo đường tip 2, cơ thé không sử dụng tốt insulin mà nó tạo ra. Trong thời gian dài, người mắc bệnh DTD tip 2 sẽ được chỉ định thuốc uống hoặc tiêm insulin tùy theo tinh trạng bệnh và chỉ định điều trị của bác sĩ. DTD thai kỳ: là một loại bệnh DTD bao gồm lượng đường huyết cao trong thai kỳ va có liên quan đến các biến chứng cho cả mẹ và con. DTD thai kỳ thường biến mất sau thời kì mang thai nhưng phụ nữ bị ảnh hưởng và con cái của họ có nhiều nguy cơ phát triển bệnh DTD tip 2 sau này trong cuộc sống”.
Theo thông tin từ Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), năm 2019 toàn thế giới có 463 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh DTD, dự kiến sẽ đạt 578 triệu người vào năm 2030 và sẽ tăng lên 700 triệu người vào năm 2045. Ước tính có hơn 4 triệu người trong độ tuổi từ 20-79 đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến bệnh DTD trong năm 2019. Do lối song thiếu lành mạnh, sử dụng thực phẩm không thích hợp, ít hoặc không hoạt động thể lực, thé thao ở trẻ em, DTD tip 2 đang có xu hướng gia tăng ở cả trẻ em. Bệnh ĐTĐ đang gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm, là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tim mạch, mù loa, suy thận, cut chi.
Dé dự phòng và làm chậm xuất hiện bệnh DTD không chỉ cần ý và trách nhiệm của mỗi người bệnh mà còn là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của mỗi người dân. Thông qua việc chủ động giám sát, phát hiện bệnh sớm, điều trị, quản lý liên tục và lâu dài sẽ là yếu tố quyết định hiệu quả trong phòng, chống bệnh. Tuy nhiên, trên thực tế việc nhận thức của xã hội về bệnh PTD chưa sâu sắc, cụ thé. Quyết định 376/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về phòng chống bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2015-2025 có 3 https://idf.org/aboutdiabetes/what-is-diabetes.html 20 nêu rõ mục tiêu chung là khống chế tốc độ gia tăng và làm giảm tỷ lệ người mắc bệnh trong cộng đồng, hạn chế tàn tật và tử vong sớm bệnh gây ra.
Việc đưa ra giải pháp truyền thông thông qua sử dụng mạng lưới thông tin tuyên truyền từ Trung ương tới địa phương dé truyền thông, phô biến, vận động các cấp ngành, đoàn thể và người dân thực hiện theo chủ trương, chính sách cùng các hướng dẫn, khuyến cáo về phòng, chống bệnh; xây dựng và cung cấp các chương trình, tài liệu truyền thông về phòng, chống bệnh phù hợp với phương thức truyền thông với các nhóm đối tượng: vận động xây dựng cộng đồng có ý thức hơn trong việc nâng cao sức khỏe theo vùng miền và từng nhóm đối tượng, độ tuổi khác nhau. Trong đó chú trọng nâng cao sức khỏe tại trường học, nơi làm việc; phát động phong trào toàn dân thực hiện lối sống tăng cường sức khỏe gắn với phòng, chống các bệnh không lây nhiễm. Do đó, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức về bệnh DTD trong toàn xã hội là cần thiết và cần có chiến lược cụ thẻ, lâu dài. Nhà báo Nhà báo là cái tên quen thuộc đối với xã hội của chúng ta.
Ở bất cứ quốc gia nảo thì nhà báo cũng đều được coi trọng bởi họ chịu trách nhiệm truyền thông và cung cấp thông tin về mọi mặt của cuộc sông mỗi ngày. Công việc của nghề báo được đánh giá là khá nhạy cảm do đảm nhiệm việc phản ánh những hiện trạng thực tế trong đời sống cũng như các vấn đề có liên quan tới văn hóa - chính tri - xã hội con người. Nhà báo còn là người chịu trách nhiệm tìm kiếm và cung cấp các tin báo chí chính xác, nhanh chóng nhất đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ cho dư luận. Các thông tin đó sẽ được nhà báo truyền tải thông qua nhiều hình thức khác nhau như báo hình, báo phát thanh, báo In, báo điện tử, mạng xã hội.
Mặc dù nghề báo có thé mang lại nhiều thành công nhưng mỗi nhà báo cũng phải biết chịu sức ép từ áp lực công việc. Mỗi một thông tin nhà báo đưa ra phải chịu trách nhiệm với nó. Dé sản xuất được những bài báo chất lượng, thu 21 hút người đọc thì trước hết người làm báo phải có đam mê và sở thích với viết lách cùng năng lực chuyên môn tốt. Với những thông tin thu thập được thì cần phải biết biến chúng thành một bài viết đủ sức cuốn hút độc giả theo dõi.
Nhà báo không chỉ phải có năng lực chuyên môn, kỹ năng trong tiếp cận và xử lý thông tin mà nhà báo còn đòi hỏi phải có đạo đức với nghé dé truyền tải các thông tin một cách chuẩn xác, trung thực. Tiếp cận, xử lý thông tin về bệnh đái tháo đường Quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ ban của con người, xuất hiện từ Thời kỳ Ánh sáng vào thế ky XVIII và được thừa nhận trong nhiều văn kiện pháp lý ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 90 nước đã ban hành Luật về tiếp cận thông tin. Trong số các bản Hiến pháp mới ban hành của hầu hết các quốc gia, đặc biệt là ở khu vực Đông Au, Trung Âu va châu My Latinh đều có quy định rất rõ về quyền tiếp cận thông tin.
Cũng tại một số đất nước mà Hiến pháp đã được ban hành từ lâu đời như Phần Lan, Na Uy,. cũng có xu hướng sửa đổi bồ sung một số quy định về quyền tiếp cận thông tin trong Hiến pháp. Tại Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin là một quyền hợp pháp của công dân được quy định cụ thé tại Hiến pháp 2013: “Công dân có quyền tự đo ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội hop, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền do pháp luật quy định”.
Theo Luật Tiếp cận thông tin được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 06/4/2016 và được Chủ tịch nước ký công bố ngày 19/4/2016. Theo đó quy định: “Tiếp cận thông tin là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin” Ÿ. Từ các quyền cùng luật tiếp cận trên cho thấy, báo chí giữ vai trò quan trọng trong việc thúc day quyền tiếp cận thông tin. Thông quá đó, báo chí đã * Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Š Mục 3 điều 2, Luật tiép cận thông tin năm 2016 22 thê hiện rõ là kênh tiếp nhận và đăng tải các thông tin do Đảng, Nhà nước và nhiều thành phần xã hội khác.