Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN 1. Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp và công ty Trách nhiệm hữu hạn 1. Khái niệm về vốn kinh doanh Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do vậy, từ trƣớc đến nay có rất nhiều quan niệm về vốn, ở mỗi một hoàn cảnh kinh tế khác nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn.
Dƣới góc độ các yếu tố sản xuất, vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dƣ, là đầu vào của quá trình sản suất. Nhận định trên về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó đƣợc thể hiện dƣới nhiều hình thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế, khái niệm trên chỉ bó hẹp về vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có quá trình sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế.Samuelson, đại diện tiêu biểu của học thuyết tăng trƣởng kinh tế hiện đại, coi đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai còn vốn và hàng hoá chỉ là kết quả của sản xuất.
Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền đƣợc sản xuất ra và đƣợc sử dụng nhƣ các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó. Một số hàng hoá vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi đó một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra vừa là 6 yếu tố đầu vào trong sản xuất. Về bản chất vốn là phƣơng pháp sản xuất gián tiếp tốn thời gian.
David Begg trong cuốn “Kinh tế học” ông đã đƣa ra hai định nghĩa về vốn là: Vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hoá đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hoá khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp. Nhƣ vậy, đã có sự đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp trong định nghĩa của David Begg.
Mặt khác, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều phải có các yếu tố cơ bản là tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động và sức lao động. Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng, để có đƣợc các yếu tố đó doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp. Số vốn tiền tệ ứng trƣớc để đầu tƣ mua sắm, hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc gọi là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trƣớc mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tƣ hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nói cách khác, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình đƣợc đầu tƣ vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Đặc trưng của vốn kinh doanh Để quản lý và sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp một cách hợp lý và hiệu quả đòi hỏi nhà quản trị cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trƣng của vốn kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp có các đặc trƣng cơ bản sau: Thứ nhất: Vốn kinh doanh đƣợc biểu hiện bằng một lƣợng giá trị thực tế của các tài sản hữu hình và vô hình dùng để sản xuất ra một lƣợng giá trị 7 thực các sản phẩm khác. Vốn chính là biểu hiện về mặt giá trị của các loại tài sản nhƣ: máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hoá, bằng phát minh sáng chế, lợi thế kinh doanh.
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, không thể có vốn mà không có tài sản hoặc ngƣợc lại. Song, chỉ những tài sản có giá trị và giá trị sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới đƣợc coi là vốn. Thứ hai: Vốn kinh doanh phải vận động sinh lời, đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Ban đầu vốn đƣợc biểu hiện bằng một lƣợng tiền nhất định nhƣng để tiền trở thành vốn thì chúng ta phải đƣa chúng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong quá trình vận động vốn kinh doanh tồn tại dƣới nhiều hình thức vật chất khác nhau và trở về hình thái biểu hiện ban đầu sau một vòng tuần hoàn. Thứ ba: Vốn kinh doanh phải đƣợc tập trung tích tụ thành một lƣợng nhất định mới có thể phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải biết tận dụng và khai thác mọi nguồn vốn có thể huy động để đầu tƣ vào hoạt động kinh doanh của mình.
Thứ tƣ: Vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian, nhất là trong nền kinh tế thị trƣờng nhƣ hiện nay thì điều này thể hiện rất rõ, vốn của doanh nghiệp luôn chịu ảnh hƣởng của các nhân tố nhƣ lạm phát, sự biến động của giá cả, tiến bộ khoa học kỹ thuật. nên giá trị của vốn kinh doanh tại các thời điểm khác nhau là khác nhau. Thứ năm: Vốn kinh doanh phải gắn với chủ sở hữu. Mỗi loại vốn bao giờ cũng gắn với một chủ sở hữu nhất định.
Ngƣời sử dụng vốn chƣa chắc đã là ngƣời sở hữu vốn, do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Điều này đòi hỏi mỗi ngƣời sử dụng vốn phải có trách nhiệm với đồng vốn mình nắm giữ và sử dụng. 8 Thứ sáu: Vốn kinh doanh đƣợc coi là một hàng hóa đặc biệt, tức là vốn kinh doanh cũng có sự thống nhất giữa hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Vai trò vốn kinh doanh Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp, ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh đƣợc, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lƣợng vốn nhất định nào đó. Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Cụ thể: - Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định.
Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng nhƣ phƣơng thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tƣ nhân, doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp liên doanh… - Vốn kinh doanh là một trong số những tiêu thức để phân loại quy mô của doanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và tƣơng lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trƣờng, mở rộng lƣu thông hàng hoá. Bởi vậy các doanh nhân thƣờng ví “buôn tài không bằng dài vốn”. - Trong cơ chế kinh doanh mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản suất kinh doanh.
Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở, là tiền đề để doanh nghiệp tính toán hoạch định các chiến lƣợc và kế 9 hoạch kinh doanh. Nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình và quan hệ kinh tế và đồng thời nó cũng là “dầu nhờn” bôi trơn cho cỗ máy kinh tế vận động có hiệu quả. - Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là yếu tố giá trị, nó chỉ phát huy đƣợc tác dụng khi bảo tồn đƣợc và tăng lên đƣợc sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Nếu vốn không đƣợc bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tƣợng mất vốn.
Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ làm cho doanh nghiệp bị phá sản, tức là vốn kinh doanh đã bị sử dụng một cách lãng phí, không hiệu quả. - Vốn kinh doanh là điều kiện duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất và nâng cao chất lƣợng sản phẩm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động. Đồng thời, vốn kinh doanh có vai trò nhƣ một đòn bẩy, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phát triển, là điều kiện để tạo lợi thế cạnh tranh, khẳng định vai trò của doanh nghiệp trên thị trƣờng. - Vốn kinh doanh là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của tài sản, kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu tài chính.
Qua đó, nhà quản trị doanh nghiệp biết đƣợc thực trạng kinh doanh, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát hiện các tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đƣa ra các biện pháp khắc phục. Phân loại vốn kinh doanh Có nhiều giác độ khác nhau để xem xét vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đôi khi nó đƣợc khắc hoạ trong luật kinh tế nhƣ là vốn pháp định và vốn điều lệ. Một số khác theo nhu cầu nghiên cứu đứng trên giác độ hình thành vốn lại thể hiện vốn gồm có vốn đầu tƣ ban đầu, vốn bổ sung, vốn liên doanh và vốn đi vay.
Sở dĩ tồn tại nhiều cách tiếp cận khác nhau là xuất phát từ sự khác nhau về triển vọng hay quan điểm sử dụng. Với bài luận văn này, tác giả sử dụng quan điểm làm quyết định về vốn qua con mắt quản trị 10 vốn ở công ty sản xuất. Với quan điểm đó, vốn đƣợc xem xét trên giác độ đặc điểm luân chuyển của vốn. Quan tâm đến vấn đề này chúng ta cần chú ý đến vốn cố định và vốn lƣu động.