Chương 1 Ý U N VÀ N N T ỨC VỀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG VĂN BẢN QUY P ẠM P ÁP U T Bản chất nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đã được khẳng định tại bản Hiến pháp năm 2013 của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mục tiêu của nhà nước là xây dựng và hướng tới quốc gia dân giàu, nước mạnh, xã hội công b ng, dân chủ, văn minh. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phư ng nói riêng đều hướng tới những mục tiêu tốt đẹp thể hiện bản chất của nhà nước. Vì vậy, bản chất của văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng và hoàn thiện nh m duy trì trật tự trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm bảo sự ổn định và phát triển, không ng ng nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.
Khác với pháp luật mang n ng tính độc đoán, áp đ t t phía nhà nước trong các chế độ c , pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân phải xuất phát t nhân dân, phản ánh nhu cầu, lợi ích chính đáng của nhân dân, phục vụ nhân dân, bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trên thực tế. Bản chất của pháp luật c ng như bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mang tính xã hội rộng lớn, nhà nước và pháp luật có vai trò như người gác cổng, người trọng tài để đảm bảo các quan hệ xã hội, quan hệ pháp luật được phát sinh, phát triển trong một trật tự, đúng với quy luật vận động, phát triển của xã hội đã được lí luận Mác tổng kết: Khi pháp luật (thượng tầng kiến trúc) tác động phù hợp với các quy luật vận động khách quan của kinh tế, xã hội (hạ tầng c sở) s thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển và ngược lại s kìm hãm sự phát triển. Ví dụ: Pháp luật có vai trò quan trọng trong bảo tồn, phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội. Pháp luật phù hợp, đạo đức được duy trì và là nền tảng cốt l i cho sự phồn vinh của quốc gia, dân tộc.
Ngược lại, khi pháp luật không phù hợp, thiếu c chế bảo đảm cho sự phát triển của các giá trị tốt đẹp và là một trong những nguyên nhân của sự xuống cấp về đạo đức xã hội. iều này l giải tại sao ở những 8 z quốc gia phát triển thường có nền tảng pháp luật nghiêm minh và giá trị đạo đức được trọng vọng. Những giá trị làm cho đại đa số con người trong xã hội trở nên nhân văn h n, kinh tế trở nên phồn thịnh h n, các giá trị chân, thể, mỹ thực sự được xã hội thức, trân trọng và phát triển và những giá trị ấy được coi là mục tiêu đích thực của cuộc sống mà con người hướng tới. Ngược lại, khi thượng tầng kiến trúc (trong đó có pháp luật, đạo đức ) không phù hợp s dẫn đến sự l ng lẻo, kém hiệu quả trong quản l , điều hành của nhà nước, dẫn đến vấn nạn tham nh ng, mất trật tự xã hội, tranh giành quyền lực, giá trị đạo đức xã hội không được coi trọng Pháp luật nói chung và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nói riêng có nghĩa đ c biệt quan trọng đối với sự phát triển hay tụt hậu của quốc gia, dân tộc ho c của địa phư ng nào đó.
ể phát huy đầy đủ vai trò của pháp luật trong việc thúc đẩy sự phát triển xã hội, đòi hòi nhà quản l phải có khả năng nắm bắt và xử l vấn đề xã hội thông qua việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo quy trình khoa học, đảm bảo tính hệ thống, khả thi và giảm thiểu văn bản trái luật đáp ứng yêu cầu quản l , điều hành của nền công vụ trong nhà nước pháp quyền. Khái iệm Vă bả q y ạm Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện các quyết định pháp luật do các c quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự và hình thức nhất định, có chứa đựng các quy tắc xử sự chung nh m điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nhất định, được áp dụng nhiều lần trong thực ti n đời sống và việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó [29, tr. Văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân 2004 là “văn bản do hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [31]. Theo các khái niệm nêu trên thì dấu hiệu về nội dung văn bản quy phạm 9 z pháp luật có chứa các “quy tắc xử sự chung” buộc các chủ thể pháp luật mà văn bản đó điều chỉnh phải thực hiện là dấu hiệu đ c trưng của văn bản quy phạm pháp luật.
Tiêu chí này thể hiện đối tượng tác động của văn bản quy phạm là không định danh, định tính cụ thể [1]. ây c ng là cách xác định dấu hiệu văn bản quy phạm pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Và nếu theo dấu hiệu này thì văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phư ng không thể giới hạn có các hình thức như hiện nay là: Quyết định, chỉ thị, Nghị quyết, mà còn gồm nhiều thể loại văn bản khác như: đề án, kế hoạch, quy hoạch, Quy chế, điều lệ [3] vì nội dung của các loại văn bản này đều có quy tắc xử sự chung, có tác động đến đối tượng rộng lớn trong xã hội, liên quan đến vấn đề tổ chức, triển khai thực thi hiến pháp, pháp luật, các chính sách xã hội quan trọng, thậm chí là sử dụng ngân sách để tổ chức thực hiện các chư ng trình, mục tiêu kinh tế, xã hội của quốc gia; Sử dụng nguồn kinh phí của nhân dân để thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của địa phư ng ối tượng tác động của các văn bản này c ng không định danh cụ thể, trong ch ng mực nào đó văn bản cụ thể hóa các nội dung của văn bản Trung ư ng ở phư ng thức tổ chức thực hiện, yêu cầu trách nhiệm đối với các c quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Việc xác định chưa đầy đủ về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật có thể dẫn đến hậu quả là một số lượng không nh văn bản có chứa quy phạm pháp luật không được xây dựng theo quy trình khoa học, ảnh hưởng không nh đến hiệu quả, tính khả thi của văn bản. Do đó, việc xây dựng các loại văn bản này c ng cần tuân thủ quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo sự tham gia, giám sát của nhân dân t hoạt động xây dựng văn bản đến việc tổ chức thực hiện đảm bảo tính hiệu quả, khả thi.
Mục tiêu phát triển phụ thuộc phần lớn vào việc tổ chức thực hiện các chư ng trình cụ thể, trong đó có tổ chức xây dựng chư ng trình, triển khai chư ng trình, kế hoạch thực hiện các mục tiêu. Nếu đó là những chư ng trình, kế hoạch khả thi, hiệu quả, tiết kiệm thì sớm đạt được các chỉ số phát triển, vấn đề đ t ra là việc phê duyệt các văn bản triển khai phải hết sức “thận trọng”, theo quy trình có sự tham gia, giám sát của nhân dân để đảm bảo dân chủ, khách quan, đảm bảo thông tin đầy đủ phục vụ cho quyết sách quản l của c quan quản l đạt hiệu quả. 10 z Kinh nghiệm quốc tế: Ở nh, Nghị viện cho phép ban hành văn bản quy định những vấn đề mà đạo luật gốc (luật mẹ) không quy định chi tiết (còn gọi là những trường hợp ủy quyền lập pháp). Tên gọi cụ thể của các văn bản này có thể là “lệnh” (orders), “quy chế” (regulations), “kế hoạch” (schemes), “quy tắc” (rules), ho c bộ quy tắc ứng xử (code of practice).
Văn bản được ban hành theo ủy quyền lập pháp thường gọi là văn bản pháp luật phái sinh (secondary legislation) ho c văn bản pháp quy (statutory instruments) [12]. Sở dĩ cần xác định r khái niệm văn bản quy phạm pháp luật đối với các loại văn bản khác ngoài những văn bản quy phạm pháp luật theo quy định hiện hành là nh m đảm bảo cho các văn bản có quy tắc xử sự chung được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục khoa học, đảm bảo tính khả thi, hiệu quả trên thực tế của văn bản. X y dự g ă bả q y ạm Xây dựng pháp luật là một trong những hình thức đ c biệt quan trọng, c bản nhất của hoạt động nhà nước nh m ban hành, sửa đổi, bổ sung hay hủy b các quy phạm pháp luật, được thực hiện trên c sở nhận thức các nhu cầu khách quan của xã hội, các lợi ích của xã hội, xây dựng pháp luật được thực hiện theo những nguyên tắc, trình tự và thủ tục pháp l nhất định nh m đưa chí nhà nước của nhân dân lên thành các quy phạm pháp luật [29, tr. Hoạt động xây dựng pháp luật bao gồm các hoạt động nghiên cứu khoa học nh m thu thập các luận cứ, làm sáng t những c sở l luận, thực ti n và pháp l liên quan đến văn bản luật đang cần xây dựng, ban hành; tổ chức những hội thảo, hội nghị, lấy kiến đóng góp vào dự thảo văn bản luật; theo d i thực tế áp dụng văn bản luật trong cuộc sống phục vụ việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện văn bản luật cả về nội dung và hình thức di n đạt, trình bày.
Vì vậy, công tác hệ thống hóa pháp luật c ng thuộc nội dung khái niệm này [28, tr. ác khái niệm trên về câu t có khác nhau, song bản chất là giống nhau. 11 z Hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ các bước của quy trình xây dựng một cách khách quan, chính xác.