Chương 1.Lý luận chung về hiệu quả quản trị tài chính trong doanh nghiệp Chương 2.Thực trạng hiệu quả quản trị tài chính tại công ty CP Bia Thanh Hóa Chương 3.Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị tài chính tại công ty CP Bia Thanh Hóa 4 Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về quản trị tài chính trong doanh nghiệp 1. Khái niệm, mục tiêu quản trị tài chính doanh nghiệp 1.
Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp Ngày nay, biến động rủi ro trở thành thuộc tính của nền kinh tế trong kỷ nguyên mới. Như vậy, quản trị tài chính cho doanh nghiệp ngày hôm nay không chỉ là vấn đề kỹ thuật tính toán lợi hại, lời lỗ mà là tương lai, một tương lai không còn giống như những gì mà các nhà kinh doanh vẫn hình dung, một tương lai được tư duy lại trong cái sự nhìn mới về sự biến động làm nên hiệu quả. Quản trị tài chính doanh nghiệp là khả năng điều hành các chính sách tài chính, sử dụng thông tin phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp để phân tích điểm mạnh, điểm yếu. Từ đó đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó, nhằm đạt được mục tiêu tài chính của doanh nghiệp.
Đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng tăng cường giá trị doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Để nâng cao hiệu quả quản trị tài chính trong doanh nghiệp tức đòi hỏi phải thực hiện tốt các vấn đề sau : - Ra quyết định tài chính kịp thời, chính xác. - Thường xuyên lập kế hoạch tài chính - Quản lý nguồn vốn có hiệu quả - Nâng cao năng lực của bộ máy quản lý tài chính công ty. Có thể khẳng định, năng lực quản trị tài chính là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Mục tiêu quản trị tài chính doanh nghiệp Nếu nhìn dưới góc độ SXKD thì mục tiêu quản trị tài chính DN là tối đa hóa LN, nhưng dưới góc độ tài chính thì lợi ích đạt được cho chủ sở hữu 5 phải là tối đa, hay nói cách khác phải tính tới giá trị thời gian của tiền và mức độ rủi ro của khoản đầu tư. Xem xét dưới góc độ TCDN thì mục tiêu cuối cùng của QTTC là ra các quyết định tài chính nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu.Đối với công ty cổ phần, tối đa hóa trị tài sản của cổ đông chính là việc tối đa hóa giá trị thị trường của cổ phiếu mà họ đang nắm giữ.Vì trên thực tế, các yếu tố ảnh hưởng tới giá cổ phiếu khá phức tạp và khó xác định chính xác mức độ ảnh hưởng. Nhưng nếu xét trong điều kiện thị trường tài chính cạnh tranh hoàn hảo thì giá cổ phiếu sẽ tương đương với giá trị của DN, phản ánh giá trị vốn hóa thị trường của DN và lúc này đã được xem xét đến những yếu tố thời gian và rủi ro. DN muốn đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị tài sản cho các cổ đông một cách bền vững thì cũng cần phải quan tâm đến lợi ích chính đáng của các đối tượng liên quan.Giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích là nguyên tắc chủ đạo để duy trì và phát triển bền vững của bất kỳ mối quan hệ nào trong xã hội, trong đó có quan hệ tài chính.
Tóm lại, mục tiêu quan trọng nhất của của quản trị TCDN là nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu hay tối đa hóa giá cổ phiếu của công ty trên thị trường, nó được coi là mục tiêu bao trùm của DN, các hoạt động QTTC của DN đều phải hướng đến mục tiêu này. Nội dung quản trị tài chính doanh nghiệp 1. Các quyết định tài chính Giá trị của một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của ba loại quyết định tài chính: - Quyết định đầu tư - Quyết định tài trợ - Quyết định chi trả cổ tức. Các quyết định này có liên quan với nhau và cùng hướng tới mục tiêu đối đa hóa tài sản của cổ đông.
6 Quyết định đầu tƣ. Quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Một quyết định đầu tư đúng đắn sẽ góp phần gia tăng giá trị doanh nghiệp, qua đó gia tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu. Ngược lại một quyết định đầu tư sai sẽ làm tổn thất giá trị tài sản của doanh nghiệp, qua đó làm giảm giá trị tài sản của chủ sở hữu.
Quyết định đầu tư là những quyết định liên quan đến tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản lưu động và tài sản cố định) cần có và mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận tài sản trong doanh nghiệp. Có thể liệt kê một số quyết định đầu tư chủ yếu như sau: - Quyết định đầu tư tài sản lưu động bao gồm: quyết định tồn quỹ, quyết định tồn kho, quyết định chính sách bán chịu hàng hóa, quyết định đầu tư tài chính ngắn hạn. - Quyết định đầu tư tài sản cố định bao gồm: quyết định mua sắm TSCĐ mới, quyết định thay thế TSCĐ cũ, quyết định đầu tư dự án, quyết định đầu tư tài chính dài hạn. - Quyết định quan hệ cơ cấu giữa đầu tư TSLĐ và TSCĐ bao gồm: quyết định sử dụng đòn bẩy hoạt động, quyết định điểm hòa vốn.
Quyết định tài trợ Quyết định về nguồn tài trợ gắn liền với quyết định lựa chọn loại nguồn vốn nào cung cấp cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay, nên dùng vốn vay ngắn hạn hay dài hạn. Ngoài ra quyết định về nguồn vốn còn xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận để tái đầu tư và lợi nhuận để phân chia cho các cổ đông. Tiếp theo, các nhà quản trị tài chính phải quyết định làm thế nào để huy động được các nguồn vốn đó. Cụ thể có thể liệt kê một số quyết định về nguồn vốn như sau: - Quyết định huy động nguồn vốn ngắn hạn bao gồm: Quyết định vay ngắn hạn hay quyết định sử dụng tín dụng thương mại, quyết định vay ngắn hạn ngân hàng hay sử dụng tín phiếu công ty.
7 - Quyết định huy động nguồn vốn dài hạn bao gồm: Quyết định nợ dài hạn hay vốn cổ phần, quyết định vay ngân hàng hay phát hành trái phiếu công ty, quyết định sử dụng vốn cổ phần phổ thông hay cổ phần ưu đãi. Chính sách cổ tức Chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận của công ty được đem phân phối như thế nào. Lợi nhuận sẽ được giữ lại để tái đầu tư cho công ty hay được chi trả cho các cổ đông. Lợi nhuận giữ lại là một nguồn quan trọng cho việc tài trợ cổ phần cho khu vực tư nhân.
Mặc dù việc phân chia giữa phát hành cổ phần mới và lợi nhuận giữ lại có xu hướng thay đổi theo thời gian, lợi nhuận giữ lại là nguồn vốn cổ phần quan trọng hơn phát hành cổ phần mới. Quản trị nguồn vốn Huy động vốn của doanh nghiệp. - Nguồn vốn tự bổ sung: bao gồm phần lợi nhuận giữ lại sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và toàn bộ số khấu hao để tái đầu tư TSCĐ. - Nguồn vốn liên doanh, liên kết: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có được thông qua hình thức hợp tác kinh doanh hoặc liên kết với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước để có thêm một khoản vốn nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp.
- Huy động vốn trên thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các loại chứng khoán và giấy ghi nợ trung và dài hạn. Đây là nơi cung cấp các nguồn tài trợ và là công cụ điều tiết rất hiệu quả các nguồn vốn của toàn xã hội. + Phát hành trái phiếu: Trái phiếu là giấy nhận nợ do doanh nghiệp phát hành khi vay vốn người khác để kinh doanh, trong đó có ghi một trị giá vay vốn nhất định, kỳ trả lãi và kỳ hạn thanh toán nợ. Theo định kỳ người có trái phiếu thu được một số tiền lợi tức cố định do doanh nghiệp trả.
Đến kỳ hạn thanh toán doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải thanh toán số tiền vay, chuộc lại trái phiếu. 8 + Phát hành cổ phiếu: Là một cách gọi thêm vốn cổ phần của công ty nhằm tăng thêm vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Cổ phiếu là giấy chứng nhận góp vốn cổ phần để tạo lập vốn cho doanh nghiệp, cho công ty cổ phần và chứng nhận quyền nhận thu nhập từ lợi nhuận của công ty, tức là quyền nhận lợi tức cổ phần (cổ tức). Người mua cổ phiếu không phải là người cho vay vốn mà là đầu tư bỏ vốn vào kinh doanh.
Vốn đã đầu tư thì không rút ra trừ khi doanh nghiệp giải tán và thanh lý doanh nghiệp. - Huy động vốn từ các tổ chức tài chính trung gian. + Ngân hàng thương mại: là tổ chức kinh doanh tiền tệ qua hệ thống ngân hàng. Các nguồn vốn nhàn rỗi được huy động, sẽ cung cấp cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu dưới hình thức cho vay nhằm phát huy tối đa hiệu quả đồng vốn của toàn xã hội.
+ Các quỹ đầu tư: Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian. Đây là loại hình doanh nghiệp đặc biệt. Các quỹ này dùng vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư trung và dài hạn thông qua các hình thức mua cổ phần, góp vốn liên doanh, cho vay. với mục đích tạo ra lợi nhuận.
+ Công ty tài chính: Công ty tài chính là một trong những định chế tài chính trung gian. Công ty tài chính không nhận tiền gửi thường xuyên như các ngân hàng mà công ty chỉ sử dụng vốn của công ty để cho nhiều đối tượng khác vay, khi các đối tượng đó có nhu cầu về vốn. Ngoài những nguồn vốn trên, doanh nghiệp còn có thể huy động vốn từ những nguồn khác: mua trả chậm các loại máy móc thiết bị, vay từ cán bộ công nhân viên, thuê tài chính. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể sử dụng tạm thời nguồn vốn từ những khoản phải trả khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả mà doanh nghiệp có thể tạm thời sử dụng không phải tính lãi và theo nguyên tắc có hoàn trả khi đến kỳ hạn chi trả như các khoản phải thanh toán với công nhân viên, nộp thuế cho Nhà nước.